Chuyển đổi số trong giáo dục đại học: Thế nào mới đúng?

0
89

Chuyển đổi số trong giáo dục đại học đã được triển khai khá nhiều, đặc biệt trong các đợt giãn cách xã hội vừa qua. Hiện nay, tất cả nền tảng giảng dạy trực tuyến phát triển rất nhanh, chưa kể công nghệ AI đang ứng dụng nhiều hơn trong lĩnh vực giáo dục. Dạy trực tuyến có lợi là người học hay người dạy dù ở vùng sâu, vùng xa, ở các quốc gia khác nhau, các trường khác nhau, có thể tương tác với nhau thông qua nền tảng trực tuyến, giảm chi phí đi lại của người học, người dạy, chi phí mời chuyên gia và học giả quốc tế.

Đối với UEH, việc dạy và học trực tuyến được sử dụng các nền tảng trực tuyến từ hệ thống LMS do trường xây dựng, các nền tảng khác như Google Meet, Microsoft Office, Zoom… để tiếp cận người học, chuyển tải nội dung của các chương trình đào tạo các bậc, hệ với người học. Cách giảng dạy trực tuyến theo hình thức như vậy cơ bản ứng phó được với bối cảnh giãn cách xã hội, người học và người dạy có thể tiếp cận với nhau để đảm bảo các chương trình đào tạo vẫn diễn ra bình thường.

Thực tế, việc giảng dạy trực tuyến, với người dạy không có trở ngại nhiều vì đến thời điểm hiện tại, các giảng viên đã quen với việc giảng dạy các môn học trên các nền tảng trực tuyến thông dụng cùng với việc sử dụng hệ thống LMS thường xuyên. Các hoạt động thường tổ chức trên lớp như thảo luận nhóm, tương tác giữa người dạy và người học vẫn diễn ra bình thường khi dạy học trực tuyến. Tuy nhiên, đối với người học, đặc biệt người học ở các vùng băng thông Internet yếu, chập chờn thì cũng gặp khó khăn nhưng số này chiếm tỷ lệ thấp và dần dần người học cũng đã thích nghi với việc học qua nền tảng trực tuyến của mình. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ mới công nhận việc dạy và học trực tuyến chứ chưa công nhận kết quả thi trực tuyến, bởi vì nền tảng giám sát người học khi họ thi trực tuyến vẫn còn khá nhiều hạn chế đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam.

Giảng dạy trực tuyến là một xu thế, vì vậy cần được hiểu một cách đúng đắn hơn về việc giảng dạy trực tuyến. Trong bối cảnh bình thường, cần phải tiếp cận phương thức này theo kiểu “blended” tức là vừa “trực tuyến” và vừa “trực tiếp”. Lớp học dạy theo kiểu “blended learning” sẽ có xu hướng chuyển đổi số thực chất khi thay đổi tiếp cận từ lớp học truyền thống sang lớp học đảo ngược mà người học sẽ chủ động học trước thông qua nền tảng trực tuyến với các nội dung và quy trình chuẩn bị cơ sở học liệu được cung cấp trên nền tảng trực tuyến. Khi cơ sở học liệu sẽ được đưa lên nền tảng trực tuyến, người học có thể học trước, sau đó vào lớp học trực tiếp chỉ để tương tác, thảo luận, giải quyết vấn đề. Trực tuyến sẽ bổ trợ cho giảng dạy trực tiếp, đó mới là xu hướng của chuyển đổi số trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học. Muốn làm được điều đó thì cơ sở dữ liệu đào tạo phải được xây dựng mang tính hệ thống theo tiếp cận kết hợp blended này. Hiện UEH đã từng bước đầu tư cơ sở học liệu mang tính hệ thống để người học có thể tiếp cận theo hình thức trực tuyến. Trong đó, mỗi môn học đều nêu rõ nội dung nào người học có thể học trực tuyến, nội dung nào phải học trực diện với người dạy. Cơ sở học liệu gồm các bài giảng được ghi âm hoặc hình ảnh bài giảng của người dạy được chuẩn bị trước theo đề cương thống nhất của môn học đó.

Hiện nay đang có rất ít trường triển khai phương pháp này bởi vì để làm được điều này phải thay đổi cách tiếp cận, từ truyền thống là thầy giảng rồi trò mới học trên lớp sang mô hình “lớp học đảo ngược”, trò học trước, sau đó mới đến lớp thảo luận, tương tác cùng giảng viên để nâng cao khả năng sáng tạo của người học và người học lúc này mới thực sự đóng vai trò trung tâm nếu thực sự muốn nỗ lực tiếp thu tri thức, kỹ năng để biến thành năng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn nghề nghiệp sau này.

Trong khi đó, các nước có nền giáo dục tiên tiến và các quốc gia phát triển, nền tảng giáo dục theo kiểu “blended” đã hình thành từ 10 năm nay. Những quốc gia châu Á như Singapore, Malaysia, Hồng Kông (Trung Quốc)… thì đã có nền tảng dạy theo kiểu “blended” ít nhất 10 năm nay. Còn Việt Nam, với bối cảnh Covid-19, chúng ta mới hiểu giảng dạy trực tuyến theo cách giảng dạy truyền thống, còn theo kiểu “blended” chỉ có một số ít trường, trong đó có UEF đang theo đuổi với những nỗ lực theo tiếp cận bước đầu thử nghiệm và sau đó lan tỏa toàn trường.

Trường UEH cũng đang thực hiện giảng dạy theo chương trình tiên tiến tức là Top 200 với đại học và Top 100 với sau đại học, nên năm nay sẽ xây dựng lại đề cương các môn học theo hướng tiếp cận “blended”. Quá trình này sẽ được tiến hành từng bước và lâu dài. Trong quá trình chuyển đổi số, sẽ có những khóa huấn luyện cho giảng viên, từ nhiều phía, trong đó có từ trường, từ các đối tác, các đại học liên kết… Bên cạnh đó, trường cũng sẽ xây dựng cơ sở nền tảng số đánh giá học viên học tập theo phương pháp “blended”, hệ thống hóa các bộ phận thành hệ thống duy nhất để thực hiện quản trị quá trình vận hành trong đó có quá trình dạy và học theo tiếp cận chuyển đổi số. Mục tiêu chung là làm sao có thể quản trị các quá trình dạy và học theo dạng “real time” tức là trường có thể quan sát một lớp học bất kỳ với một môn học nào đó để biết người học đang tự học cái gì, người dạy đang dạy cái gì, hệ thống này kỳ vọng sẽ đánh giá người học đạt bao nhiêu phần trăm chuẩn đầu ra bài học đó vào thời điểm đó. Đó là kỳ vọng của trường trong chuyển đổi số hoạt động đào tạo.

(*) Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP.HCM (UEH)

Chuyển đổi số trong giáo dục đại học đã được triển khai khá nhiều, đặc biệt trong các đợt giãn cách xã hội vừa qua. Hiện nay, tất cả nền tảng giảng dạy trực tuyến phát triển rất nhanh, chưa kể công nghệ AI đang ứng dụng nhiều hơn trong lĩnh vực giáo dục. Dạy trực tuyến có lợi là người học hay người dạy dù ở vùng sâu, vùng xa, ở các quốc gia khác nhau, các trường khác nhau, có thể tương tác với nhau thông qua nền tảng trực tuyến, giảm chi phí đi lại của người học, người dạy, chi phí mời chuyên gia và học giả quốc tế.

Đối với UEH, việc dạy và học trực tuyến được sử dụng các nền tảng trực tuyến từ hệ thống LMS do trường xây dựng, các nền tảng khác như Google Meet, Microsoft Office, Zoom… để tiếp cận người học, chuyển tải nội dung của các chương trình đào tạo các bậc, hệ với người học. Cách giảng dạy trực tuyến theo hình thức như vậy cơ bản ứng phó được với bối cảnh giãn cách xã hội, người học và người dạy có thể tiếp cận với nhau để đảm bảo các chương trình đào tạo vẫn diễn ra bình thường.

Thực tế, việc giảng dạy trực tuyến, với người dạy không có trở ngại nhiều vì đến thời điểm hiện tại, các giảng viên đã quen với việc giảng dạy các môn học trên các nền tảng trực tuyến thông dụng cùng với việc sử dụng hệ thống LMS thường xuyên. Các hoạt động thường tổ chức trên lớp như thảo luận nhóm, tương tác giữa người dạy và người học vẫn diễn ra bình thường khi dạy học trực tuyến. Tuy nhiên, đối với người học, đặc biệt người học ở các vùng băng thông Internet yếu, chập chờn thì cũng gặp khó khăn nhưng số này chiếm tỷ lệ thấp và dần dần người học cũng đã thích nghi với việc học qua nền tảng trực tuyến của mình. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ mới công nhận việc dạy và học trực tuyến chứ chưa công nhận kết quả thi trực tuyến, bởi vì nền tảng giám sát người học khi họ thi trực tuyến vẫn còn khá nhiều hạn chế đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam.

Giảng dạy trực tuyến là một xu thế, vì vậy cần được hiểu một cách đúng đắn hơn về việc giảng dạy trực tuyến. Trong bối cảnh bình thường, cần phải tiếp cận phương thức này theo kiểu “blended” tức là vừa “trực tuyến” và vừa “trực tiếp”. Lớp học dạy theo kiểu “blended learning” sẽ có xu hướng chuyển đổi số thực chất khi thay đổi tiếp cận từ lớp học truyền thống sang lớp học đảo ngược mà người học sẽ chủ động học trước thông qua nền tảng trực tuyến với các nội dung và quy trình chuẩn bị cơ sở học liệu được cung cấp trên nền tảng trực tuyến. Khi cơ sở học liệu sẽ được đưa lên nền tảng trực tuyến, người học có thể học trước, sau đó vào lớp học trực tiếp chỉ để tương tác, thảo luận, giải quyết vấn đề. Trực tuyến sẽ bổ trợ cho giảng dạy trực tiếp, đó mới là xu hướng của chuyển đổi số trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học. Muốn làm được điều đó thì cơ sở dữ liệu đào tạo phải được xây dựng mang tính hệ thống theo tiếp cận kết hợp blended này. Hiện UEH đã từng bước đầu tư cơ sở học liệu mang tính hệ thống để người học có thể tiếp cận theo hình thức trực tuyến. Trong đó, mỗi môn học đều nêu rõ nội dung nào người học có thể học trực tuyến, nội dung nào phải học trực diện với người dạy. Cơ sở học liệu gồm các bài giảng được ghi âm hoặc hình ảnh bài giảng của người dạy được chuẩn bị trước theo đề cương thống nhất của môn học đó.

Hiện nay đang có rất ít trường triển khai phương pháp này bởi vì để làm được điều này phải thay đổi cách tiếp cận, từ truyền thống là thầy giảng rồi trò mới học trên lớp sang mô hình “lớp học đảo ngược”, trò học trước, sau đó mới đến lớp thảo luận, tương tác cùng giảng viên để nâng cao khả năng sáng tạo của người học và người học lúc này mới thực sự đóng vai trò trung tâm nếu thực sự muốn nỗ lực tiếp thu tri thức, kỹ năng để biến thành năng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn nghề nghiệp sau này.

Trong khi đó, các nước có nền giáo dục tiên tiến và các quốc gia phát triển, nền tảng giáo dục theo kiểu “blended” đã hình thành từ 10 năm nay. Những quốc gia châu Á như Singapore, Malaysia, Hồng Kông (Trung Quốc)… thì đã có nền tảng dạy theo kiểu “blended” ít nhất 10 năm nay. Còn Việt Nam, với bối cảnh Covid-19, chúng ta mới hiểu giảng dạy trực tuyến theo cách giảng dạy truyền thống, còn theo kiểu “blended” chỉ có một số ít trường, trong đó có UEF đang theo đuổi với những nỗ lực theo tiếp cận bước đầu thử nghiệm và sau đó lan tỏa toàn trường.

Trường UEH cũng đang thực hiện giảng dạy theo chương trình tiên tiến tức là Top 200 với đại học và Top 100 với sau đại học, nên năm nay sẽ xây dựng lại đề cương các môn học theo hướng tiếp cận “blended”. Quá trình này sẽ được tiến hành từng bước và lâu dài. Trong quá trình chuyển đổi số, sẽ có những khóa huấn luyện cho giảng viên, từ nhiều phía, trong đó có từ trường, từ các đối tác, các đại học liên kết… Bên cạnh đó, trường cũng sẽ xây dựng cơ sở nền tảng số đánh giá học viên học tập theo phương pháp “blended”, hệ thống hóa các bộ phận thành hệ thống duy nhất để thực hiện quản trị quá trình vận hành trong đó có quá trình dạy và học theo tiếp cận chuyển đổi số. Mục tiêu chung là làm sao có thể quản trị các quá trình dạy và học theo dạng “real time” tức là trường có thể quan sát một lớp học bất kỳ với một môn học nào đó để biết người học đang tự học cái gì, người dạy đang dạy cái gì, hệ thống này kỳ vọng sẽ đánh giá người học đạt bao nhiêu phần trăm chuẩn đầu ra bài học đó vào thời điểm đó. Đó là kỳ vọng của trường trong chuyển đổi số hoạt động đào tạo.

(*) Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP.HCM (UEH)

Nguồn: Doanh nhan sai gon

Previous articleVietjet đồng hành cùng Miss World Vietnam 2021
Next articleMB ước lãi gần 4.600 tỷ đồng trong quý 1, lượng khách hàng mới bằng xấp xỉ 60% cả năm 2020

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here