Hàng tồn kho – những điều cần biết

0
53

Trong hoạt động kinh doanh của đại đa số các doanh nghiệp luôn tồn tại loại tài sản là “Hàng tồn kho”. Hàng tồn kho là những mặt hàng sản phẩm được doanh nghiệp giữ để bán ra sau cùng. Nói cách khác, hàng tồn kho là những mặt hàng dự trữ mà một công ty sản xuất ra để bán và những thành phần tạo nên sản phẩm. Do đó, hàng tồn kho chính là sự liên kết giữa việc sản xuất và bán sản phẩm đồng thời là một bộ phận của tài sản ngắn hạn, chiếm tỉ trọng lớn, có vai trò quan trọng trong việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Định nghĩa nêu trên là tác dụng thực tế của Hàng tồn kho đối với hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên về mặt kế toán thì hiện tại các công ty ở Việt Nam có rất nhiều cách hạch toán làm sai lệch đi kết quả kinh doanh cuối cùng của Công ty liên quan đến khoản mục Hàng Tồn kho. Qua kinh nghiệm nhiều năm làm kiểm toán, tác giả xin đưa ra vài nhận định khi phân tích khoản mục hàng tồn kho khi đầu tư chứng khoán:
+ Điều đầu tiên cần tách biệt rõ giá trị khoản mục “Hàng tồn kho” trên bản Báo cáo tài chính và lượng “Hàng tồn kho” tồn thực tế tại kho doanh nghiệp:
– Giá trị khoản mục “Hàng tồn kho” trên bản Báo cáo tài chính thể hiện tổng lượng tiền, chi phí mà công ty đã bỏ ra và ghi nhận là một khoản chi phí còn tồn trên bảng Cân đối kế toán dưới tên gọi “Hàng tồn kho”, khi nào hàng tồn kho đã được bán thì sẽ kết chuyển vào khoản mục “Giá vốn hàng bán” trên bảng Kết quả hoạt động kinh doanh. Vậy bản chất giá trị “Hàng tồn kho” trên bản Báo cáo tài chính là khoản chi phí đã bỏ ra để phục vụ sản xuất kinh doanh.
– “Hàng tồn kho” tại kho doanh nghiệp là lượng hàng còn tồn thực tế, hiện hữu thuộc sở hữu của doanh nghiệp, lượng hàng này được thể hiện trong bảng kiểm kê hàng tồn kho (là chứng từ kế toán), thể hiện rõ ràng rằng doanh nghiệp còn tồn loại hàng hóa nào, số lượng từng mặt hàng bao nhiêu.
+ Điều thứ hai phân tích xu hướng hạch toán giá trị hàng tồn kho. Sau khi tách rõ giá trị sổ sách của khoản mục “Hàng tồn kho” và giá trị tồn thực tế trong kho doanh nghiệp thì các công ty thường có xu hướng như sau:
– Đối với các Công ty có lợi nhuận lớn: đa số các Công ty này có xu hướng hạch toán thấp giá trị hàng tồn kho còn trên bảng Cân đối kế toán, tức là Công ty do có nhiều lợi nhuận nên sẽ đẩy nhiều chi phí vào kết quả kinh doanh càng nhiều càng tốt. Nguyên nhân là do sẽ giảm được lợi nhuận sẽ dẫn đến giảm số thuế phải nộp, đồng thời giảm đi gánh nặng chỉ tiêu lợi nhuận cho những năm sau. Ngoài ra đối với các doanh nghiệp này luôn có xu hướng trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho nhiều để giảm lợi nhuận
– Đối với các Công ty có lợi nhuận thấp: đa số các Công ty này có xu hướng hạch toán cao giá trị hàng tồn kho còn trên bảng Cân đối kế toán, tức là Công ty vì có ít lợi nhuận nên sẽ đẩy nhiều chi phí treo lại trên bảng cân đối kế toán mà chưa ghi nhận vào kết quả kinh doanh trong kỳ. Điều này là tăng số lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp lên, ẩn các khoản lỗ, chi phí vào khoản mục “Hàng tồn kho”.
+ Điều thứ ba là phân tích “Hệ số vòng quay hàng tồn kho”: Việc phân tích vòng quay hàng tồn kho tùy thuộc rất lớn vào ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp, mỗi ngành sản xuất có yêu cầu về chi phí phải bỏ ra để phục vụ kinh doanh rất khác nhau. Ví dụ như với doanh nghiệp xây dựng thì chi phí bỏ ra cho mỗi công trình có thể tồn kho đến 2-3 năm, trong khi các công ty sản xuất công nghiệp thường có thời gian vòng quay hàng tồn kho từ 3 – 12 tháng, các công ty thương mại như siêu thị thì chỉ có thời gian vòng quay hàng tồn kho 1-3 tháng. Tuy nhiên việc phân tích vòng quay hàng tồn kho trên nguyên tắc là vòng quay hàng tồn kho so với trung bình ngành và thực tế cuộc sống càng thấp thì đại đa số là càng tốt; Ví dụ như một công ty thủy sản của vòng quay hàng tồn kho một năm là 1 vòng, tức là một sản phẩm thủy sản của Công ty từ lúc bắt đầu sản xuất đến khi bán được cho khách hàng có thời gian tốn trung bình là 1 năm, vậy so với thực tế hàng thủy sản là hàng hóa tiêu dùng nhanh thì việc vòng quay hàng tồn kho quá lâu như trên dẫn đến khả năng báo cáo tài chính của Công ty thủy sản đó chưa phản ánh đúng thực tế, có dấu hiệu giấu chi phí lỗ trong báo cáo tài chính.
+ Điều thứ tư là có phải “Tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu”: Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ quản lý hàng tồn kho của Công ty và ngành nghề kinh doanh, khó có thể đưa ra khuôn mẫu chung cho mức tồn kho. Tuy nhiên theo kinh nghiệm cá nhân của tác giả thì đại đa số nguyên tắc trên là chính xác. Những Công ty kinh doanh tốt, lợi nhuận cao thường có mức tồn kho thấp hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành, cùng quy mô. Những Công ty có dấu hiện giấu lỗ, hoạt động hiệu quả kém thì thường có mức tồn kho cao.
Kết luận: Khi phân tích hoạt động của một doanh nghiệp cần đánh giá nhiều tiêu chí như ngành nghề kinh doanh, quy mô hoạt động, khả năng quản lý để xem xét tính hiệu quả của doanh nghiệp. Tuy nhiên theo kinh nghiệm cá nhân của tác giả thì những Công ty kinh doanh tốt, lợi nhuận cao thường có mức tồn kho thấp hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành, cùng quy mô; vòng quay hàng tồn kho các Công ty này thường là thấp hơn những công ty cùng ngành; các Công ty có xu hướng ghi nhận hàng tồn kho thấp và trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho nhiều để giảm lợi nhuận. Những Công ty có dấu hiện giấu lỗ, hoạt động hiệu quả kém thì lại có hành động ngược lại.
Việc căn cứ vào số liệu hàng tồn kho của Doanh nghiệp để giúp nhà đầu tư đánh giá chất lượng tài sản của Doanh nghiệp và khả năng quản lý dòng tiền trong hoạt động của lãnh đạo doanh nghiệp, cũng như sự chính trực và cái tâm của chủ doanh nghiệp với vốn góp của cổ đông…
VD: đánh giá hàng tồn kho 2 doanh nghiệp cùng ngành ANV và IDI cùng ngành sản xuất và xuất khẩu cá Tra năm 2019 để đánh giá việc sử dụng vốn trong hiệu quả kinh doanh của 2 doanh nghiệp cùng ngành này.
Doanh thu
ANV : 4.480 tỷ IDI : 7.730 tỷ
Tồn Kho
ANV :1.580 tỷ IDI: 1.600 tỷ
Lợi nhuận gộp
ANV : 1.040 tỷ IDI: 699 tỷ
Nhiều doanh nghiệp đang trong đầu tư dự án thường có lượng hàng tồn kho cao thì NĐT khi phân tích khoản mục hàng Tồn kho cần phải nhìn vào quá trình sản xuất trong quá trình đầu tư thường có tồn kho cao nhưng để có thể đánh giá hiệu quả tương lai của doanh nghiệp thấy thì chúng ta cần liên hệ với hiệu quả sử dụng vốn trong tư đầu của lãnh đạo doanh nghiệp.
Ví dụ:
TV2 đầu tư giá điện mặt trời giá 100 MWP hết 1.000 tỷ giá 10 tỷ/1 M
HDG đầu tư 50 MWP hết 1.000 tỷ giá tương đương 20 tỷ/ 1M
Vậy mà ASM đầu tư 210 MWP hết 6.000 tỷ ~ 30 tỷ/ 1M.
Thực tế hiện nay suất đầu tư điện mặt trời hiện nay 1MWp khoảng 1÷1,3 ký tỉ thôi, rẻ hơn năm 2019 nhiều.
DN Khai khống vay Bank lấy tiền đầu tư, rủi ro thì NH và cổ đông chịu, nếu cần Phát hành thêm thì phát hành ảo, lấy chính tiền vay NH nộp vào nên có những Cổ phiếu giá không cao mà BLĐ vẫn cứ bán như phá mả là thế, vì giá vốn góp thực là 0 đồng.
Giang hồ chơi chứng gọi là TAY KO bắt Bank và cổ đông đó, làm hết 1đ, gửi giá 3đ. Dồn lại hết cho Bank và cổ đông chịu, bài này là kinh điển của các ổng lãnh đạo DN ăn tham ý mà, đó là kiểu lãnh đạo doanh nghiệp thiếu đạo đức NĐT khi đầu tư cần cảnh giác với những bánh vẽ của họ bày ra.
Tác giả/Lê Quang Mạnh

Nguồn: vietnambusinessinsider.vn

Previous articleNền kinh tế hậu COVID: 7 xu hướng ngành dịch vụ tài chính
Next articleNgồi “ghế nóng” 6 tháng, Tổng giám đốc Bảo hiểm PVI tự thưởng cho mình gần 12 tỷ

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here