Hiệp định EVFTA có hiệu lực, liệu có giải quyết được sự phụ thuộc các mặt hàng chủ lực của Việt Nam vào Trung Quốc?

0
39

Nền kinh tế ngày càng hội nhập, chính phủ tích cực kí kết các hiệp định thương mại điển hình là Hiệp định EVFTA sẽ có hiệu lực vào tháng 7 sắp tới nhưng tại sao những ngành chủ lực của Việt Nam vẫn phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc?
Mới đây vào ngày 8/6, Quốc hội tiến hành thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định EVFTA và EVIPA. Qua đây thì hiệp định EVFTA đã được điều chỉnh về nhiều vấn đề về thương mại nhưng ta phải nhắc đến đó là 3 vấn đề điển hình nhất là xóa bỏ hàng rào thuế quan, các biện pháp kĩ thuật và quy tắc xuất xứ.
Dữ liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy, năm 2019, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU 41,7 tỷ USD, ngang bằng với kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc và ta cũng được biết đến là đối tác thương mại lớn thứ nhì của EU trong ASEAN chỉ sau Singapore.
Với hiệp định EVFTA sẽ mở ra rất nhiều cơ hội cho Việt Nam nhưng nhìn lại thì chúng ta đã làm gì qua những năm gần đây mà lại để phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc.
Ta có thể thấy con số năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc đạt 116,866 tỷ USD, trong đó, xuất khẩu của Việt Nam là 41,414 tỷ USD và nhập khẩu tới 75,452 tỷ USD. Sự phụ thuộc còn thể hiển rõ trong đại dịch Covid-19, khi các mặt hàng nông sản của chúng ta bị ùn ứ ở cửa khẩu, còn các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo thì thiếu nguyên phụ liệu để sản xuất khiến quá trình sản xuất bị gián đoạn.
Đặt ra câu hỏi rằng với 2 mặt hàng chủ lực của ta là nông sản và chế biến, chế tạo đang gặp vấn đề gì để xuất hàng hóa sang EU.
Đối với mặt hàng nông sản
Nhìn lại cậu chuyện nông dân than khóc vì tình trạng nông sản thu hoạch rồi mà không bán được hay hàng hóa bị ùn ứ đầy ở cửa khẩu của Trung Quốc mỗi khi nước này có vấn đề.
Mặt hàng nông sản của ta từ trước tới nay đa số đều được xuất sang Trung Quốc nhưng tình trạng ùn ứ vẫn thường xảy ra khi bên Trung Quốc ho he ngừng mua, vậy sao chúng ta không chuyển hướng, không đặt vấn đề với thị trường trong nước, cũng như thị trường Mỹ và châu Âu khi chính phủ đã nỗ lực đàm phán để mở rộng thị trường?
Đó là do mặt hàng nông sản của chúng ta có chất lượng kém nên chỉ đáp ứng được tiêu chuẩn thấp, dễ tính như thị trường Trung Quốc.
Chúng ta kém ở đâu? Tại sao người nông dân lại lạm dụng thuốc nhiều như vậy? Tại sao họ biết là sử dụng như vậy là không tốt nhưng vẫn dùng? Sao doanh nghiệp thu mua không chọn lọc? Sao doanh nghiệp biết sản phẩm của họ không được tốt nhưng vẫn mua, xong đến lúc không bán được lại đổ dồn cho nhau?
Đó là vấn đề bất cập ở nhiều mặt trong mặt hàng nông sản ở Việt Nam, khi chất lượng còn thấp, thiếu áp dụng công nghệ vào nuôi trồng nên nếu không sử dụng thuốc(thuốc kích thích, tăng trưởng, bảo vệ thực vật…) thì mặt hàng mẫu mã xấu, năng xuất thấp nhưng nếu sử dụng thuốc thì ta vẫn có thể lừa qua mắt được một phần thị trường chưa kiểm soát chặt trong nước và thị trường Trung Quốc dễ tính.
Khi hiệp định EVFTA có hiệu lực, hàng rào thuế quan bị dỡ bỏ, hàng hóa của ta thì chưa đủ chất lượng xuất nhiều sang EU còn hàng hóa EU cùng thể loại nhưng có sức cạnh tranh về mẫu mã, chất lượng, giá cả lại tràn vào Việt Nam thì những ngành hàng này phải chống đỡ thế nào đây?
Sao các nước đặc biệt là nước có nền kinh tế phát triển lại làm khó với hàng hóa chúng ta bằng các biện pháp kĩ thuật vậy? Thật ra nếu hiểu sâu hơn thì họ không làm khó chúng ta đâu mà tự chúng ta đặt mình vào thế bị động. EU là thị trường khó tính nhưng minh bạch, thế nên với sự khó tính này thì hàng hóa của chúng ta mới biết rõ được khuyết điểm cần khắc phục, cũng như minh bạch ở thị trường này giúp cho hàng hóa nước ta có thể định vị được vị thế của mình trên thị trường.
Vậy hàng rào kĩ thuật là gì? Hàng rào kỹ thuật trong thương mại là các biện pháp áp dụng đối với hàng hóa khi lưu thông trong nước và qua biên giới (nhập khẩu hoặc xuất khẩu), như: Các quy định về tiêu chuẩn chất lượng (Các yêu cầu, qui định đối với sản phẩm; Các thủ tục đánh giá, giám định về chất lượng sản phẩm); Tiêu chuẩn về an toàn cho người sử dụng (Các quy định về nhãn mác, đóng gói, ký hiệu mã sản phẩm, nguồn gốc xuất xứ…); Tiêu chuẩn về lao động và trách nhiệm xã hội (Bộ tiêu chuẩn chung là Bộ SA8000, là công cụ quản lý, giúp các công ty, tổ chức chứng nhận đánh giá điều kiện sản xuất và làm việc; Quy định về bảo vệ môi trường (Hệ thống ISO14001:2000, xem xét vấn đề về bảo vệ môi trường trong sản xuất sản phẩm, tạo sản phẩm xanh, sạch).
Ta có thể thấy việc các quốc gia phát triển họ không hề làm khó chúng ta mà những biện pháp kĩ thuật này đang được sử dụng rất phổ biến, họ cũng áp dụng cho chính hàng hóa xuất khẩu của nước họ chứ không phải mỗi hàng hóa nhập khẩu từ nước ta và những biện pháp này đang dần trở thành tiêu chuẩn chung được thế giới hướng đến. Nhưng chính vì những tiêu chuẩn đó khiến nó trở thành rào cản thương mại giữa các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau.
Hơn nữa, ta không thể phủ nhận được ý nghĩa quan trọng của các biện pháp kĩ thuật này với việc bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và an ninh quốc gia,…
Bên cạnh việc đòi công bằng với các biện pháp kĩ thuật sao chúng ta không nâng cao khả năng để thích ứng với nó bằng việc đề ra những tiêu chuẩn kĩ thuật này ngay với hàng hóa sản xuất trong nước. Ta có thể thấy đến chính hàng hóa nông sản trong nước mà người dân trong nước vẫn còn lo ngại về chất lượng, nông sản ngoài chợ bày bán đôi lúc không dám mua vì sợ nhiều chất bảo quản, thuốc kích thích,…
Vậy nên, nếu chúng ta chủ động hơn với chất lượng hàng hóa sẽ giúp cho hàng hóa của nước ta sẽ bớt bị phụ thuộc vào một môi trường nào đó, mở rộng thêm được nhiều thị trường và tận dụng luôn cả thị trường trong nước, và cũng đồng nghĩa với việc nâng cao vị thế của mình trên thị trường quốc tế.
Đối với các mặt hàng chế biến, chế tạo
Báo cáo của Bộ công thương nêu rõ, các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam hiện nay phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung nguyên phụ liệu, linh kiện đầu vào nhập khẩu từ Trung Quốc và các quốc gia khác đang chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Những ngành hàng chịu ảnh hưởng nhiều nhất là: điện – điện tử, dệt may và da giày, sản xuất, lắp ráp ô tô.
Cụ thể, năm 2019, Việt Nam nhập khẩu 11,52 tỷ USD hàng dệt may, da giày từ Trung Quốc, chiếm 47,74% tổng kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng này của Việt Nam. Tương tự, Trung Quốc là đối tác lớn nhất cung cấp hóa chất và sản phẩm từ hóa chất; chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo cho Việt Nam, đạt lần lượt 3,23 tỷ USD (chiếm 30,6% tổng kim ngạch mặt hàng này) và 3,99 tỷ USD (chiếm 25,7% tổng kim ngạch mặt hàng này).
Ngành dệt may có đến 60% các linh kiện từ vải đến cái cúc áo, sợi chỉ, cây kim… đều nhập từ Trung Quốc.
Nhưng với quy tắc xuất xứ của EVFTA: Hàng hóa sẽ được coi là có xuất xứ tại một bên (Việt Nam hoặc EU) nếu đáp ứng được một trong các yêu cầu sau: Có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của bên xuất khẩu; Không có xuất xứ thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của bên xuất khẩu, nhưng đáp ứng được các yêu cầu như hàm lượng giá trị nội địa không dưới 40%…
EVFTA hướng tới mức độ xóa bỏ 99,2% số dòng thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, để được hưởng mức ưu đãi này, hàng xuất khẩu sang EU cần thoả mãn quy tắc xuất xứ, đây có thể là một lực cản đối với hàng xuất khẩu Việt Nam, bởi nguồn nguyên liệu cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc và ASEAN. Nếu không đảm bảo được quy tắc xuất xứ, hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU chỉ được hưởng mức thuế đãi ngộ tối huệ quốc, chứ không phải là mức thuế suất 0% trong EVFTA.
Thách thức lớn nhất đối với các DN Việt Nam hiện nay là làm thế nào tiếp cận thị trường EU trong khi nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam lại chủ yếu nhập khẩu từ các nước ngoài EU. Bên cạnh đó, các DN cũng sẽ phải đối mặt với nguy cơ từ việc mở cửa thị trường trong nước cho các nước thành viên của EU vào Việt Nam. Nội tại ngành này thì Việt Nam vẫn còn những hạn chế, chưa thật sự bền vững, chưa thực hiện được chuỗi cung ứng cho mình.
Vậy nên các DN này cần phải chủ động hơn trong việc đầu tư, phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành để thích ứng, chủ động hơn trong chuỗi sản xuất sản của mình và xây dựng tầm nhìn chiến lược dài hạn để bứt phá.
Những thách thức có thể nhìn thấy từ 2 ngành hàng trên nhưng EVFTA cũng đã tạo cho ta những cơ hội nâng cao vị thế thì ta cũng phải nỗ lực hết mình để vươn xa hơn. Để tận dụng được cơ hội trong thương mại thì Việt Nam phải chủ động, uyển chuyển hơn nữa với hàng hóa của mình, cũng như nắm bắt luật chơi trên thị trường quốc tế để tận dụng được thời cơ. Ta không thể phủ nhận vai trò của Trung Quốc trong thương mại nhưng chúng ta cũng không thể phụ thuộc vào thị trường này, sự phụ thuộc càng lớn thì rủi ro càng nhiều nên chúng ta phải tạo cho mình lợi thế riêng với những môi trường khác nhau để tận dụng tốt cơ hội cũng như sẵn sàng đối phó với những thách thức đến từ nhiều phía.
 
 

Nguồn: vietnambusinessinsider.vn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here