Home Phát triển bản thân HỌC THUYẾT GẮN BÓ VÀ BA LOẠI NGƯỜI CÓ XU HƯỚNG GẮN...

HỌC THUYẾT GẮN BÓ VÀ BA LOẠI NGƯỜI CÓ XU HƯỚNG GẮN BÓ ĐIỂN HÌNH: TRÁNH NÉ, LO ÂU VÀ AN TOÀN

Tên gốc: Adult Attachment Theory and Research

Tóm lược

Nghiên cứu về sự gắn bó của người trưởng thành được dựa trên giả thuyết rằng hệ thống động lực tạo ra mối liên kết tình cảm chặt chẽ giữa cha mẹ và trẻ sơ sinh, cũng đồng thời là động lực liên kết tình cảm của những người lớn trong các mối quan hệ thân mật về mặt tình cảm. Mục tiêu của bài tiểu luận này là cung cấp một cái nhìn tổng quan về lịch sử nghiên cứu thuyết gắn bó, trình bày các ý tưởng chính của thuyết gắn bó và tổng hợp một số mẫu kết quả của các nghiên cứu có liên quan. Bài tiểu luận này sẽ phù hợp với những người muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu đã có của thuyết gắn bó.

Bối cảnh: Học thuyết gắn bó của Bowlby

Thuyết gắn bó lần đầu tiên được phát triển bởi John Bowlby (1907 – 1990), một nhà phân tâm học người Anh, người đang cố gắng thấu hiểu nỗi đau của những đứa trẻ bị chia cắt khỏi cha mẹ. Bowlby quan sát thấy rằng những đứa trẻ bị chia tách khỏi bố mẹ sẽ có những hành vi bất thường để ngăn cản sự chia cách với cha mẹ của chúng hoặc để thiết lập lại sự gần gũi với cha mẹ (ví dụ: khóc, bám víu, nỗ lực tìm kiếm). Vào thời điểm Bowlby viết bài viết đầu tiên về chủ đề này, các nhà tâm lý cho rằng những biểu hiện này là biểu hiện của các cơ chế phòng vệ chưa trưởng thành đang hoạt động để kìm nén nỗi đau cảm xúc, nhưng Bowlby phát hiện ra rằng những biểu hiện như vậy phổ biến với nhiều loài động vật có vú và suy đoán rằng những hành vi này có thể là một chức năng phục vụ cho sự tiến hóa.

Dựa trên thuyết sinh thái, Bowlby cho rằng những hành vi gắn bó này (chẳng hạn như khóc và tìm kiếm) là những phản ứng của trẻ chống lại việc bị tách khỏi một người gắn bó chính – một người cung cấp hỗ trợ, bảo vệ và chăm sóc. Bởi vì trẻ sơ sinh cũng giống như động vật sơ sinh có vú khác, không thể tự ăn hoặc tự bảo vệ mình, chúng phụ thuộc vào sự chăm sóc và bảo vệ của những người “lớn tuổi và khôn ngoan hơn”. Bowlby lập luận rằng, trong quá trình tiến hóa, trẻ sơ sinh có thể duy trì sự gần gũi với một người gắn bó bằng các hành vi gắn bó, sẽ có nhiều khả năng sống sót đến tuổi sinh sản hơn. Theo Bowlby, một hệ thống động lực, cái mà ông gọi là hệ thống hành vi gắn bó, dần dần được “thiết kế” bởi chọn lọc tự nhiên để điều chỉnh sự gần gũi với một người gắn bó.

Hệ thống hành vi gắn bó là một khái niệm quan trọng trong thuyết gắn bó vì nó cung cấp một khái niệm về sự liên hệ giữa các mô hình sinh thái về sự phát triển của con người và các thuyết hiện đại về cảm xúc và nhân cách. Theo Bowlby, hệ thống hành vi gắn bó về cơ bản “hỏi” câu hỏi cơ bản sau: Người gắn bó có đang ở gần, có thể tiếp cận và có đang chú ý tới trẻ không? Nếu trẻ nhận thấy câu trả lời cho câu hỏi này là “có”, trẻ cảm thấy được yêu thương, an toàn và tự tin khám phá môi trường mới, chơi với người khác và hòa đồng. Tuy nhiên, nếu đứa trẻ cho rằng câu trả lời cho câu hỏi này là “không”, đứa trẻ sẽ trải qua sự lo lắng, và trẻ sẽ có khả năng biểu hiện các hành vi gắn bó, từ đơn giản như đưa mắt tìm kiếm người gắn bó, đến hành vi phức tạp hơn như theo dõi xung quanh và ra tín hiệu bằng âm thanh (xem Hình 1). Những hành vi này tiếp tục cho đến khi đứa trẻ có thể thiết lập lại mức độ gần gũi về thể chất/tâm lý mà trẻ mong muốn với người gắn bó, hoặc cho đến khi đứa trẻ “mệt mỏi”, tương tự với hoàn cảnh một đứa trẻ bị chia cắt hoặc mất đi bố mẹ (người gắn bó). Trong những trường hợp như vậy, Bowlby tin rằng trẻ nhỏ đã trải qua sự tuyệt vọng và trầm cảm sâu sắc.

Hình 1

Sự khác biệt mang tính cá nhân trong các kiểu gắn bó ở trẻ sơ sinh

Mặc dù Bowlby tin rằng các động lực được mô tả ở trên đã mô tả được các động lực căn bản của hệ thống hành vi gắn bó, nhưng ông nhận ra rằng có sự khác biệt mang tính cá nhân trong cách trẻ em đánh giá khả năng tiếp cận của những người gắn bó và cách chúng điều chỉnh hành vi gắn bó của mình để đối phó với sự hoảng loạn, cảm giác không an toàn. Tuy nhiên, phải đến khi đồng nghiệp của ông, Mary Ainsworth (1913 – 1999), bắt đầu nghiên cứu một cách có hệ thống về sự chia rẽ giữa trẻ sơ sinh và cha mẹ thì sự hiểu biết về những khác biệt cá nhân này mới được đầy đủ. Ainsworth và các sinh viên của cô đã phát triển một kỹ thuật gọi là tình huống lạ – một mô hình thí nghiệm để nghiên cứu sự gắn bó giữa trẻ sơ sinh và cha mẹ. Trong “tình huống lạ”, trẻ sơ sinh 12 tháng tuổi và cha mẹ của chúng được đưa đến phòng thí nghiệm, bị chia tách và đoàn tụ một cách có mục đích để quan sát phản ứng của đứa trẻ. Trong “tình huống lạ”, hầu hết trẻ em (khoảng 60%) cư xử theo cách mà thuyết gắn bó “chuẩn” của Bowlby đã đề cập. Chúng trở nên buồn bã khi cha mẹ rời khỏi phòng, nhưng khi họ trở lại, chúng chủ động tìm đến cha mẹ và dễ dàng được họ an ủi. Những đứa trẻ thể hiện kiểu hành vi này được gọi là kiểu gắn bó an toàn. Những đứa trẻ khác (khoảng 20% ​​trở xuống) ban đầu không thoải mái, và sau khi bị chia tách, chúng trở nên vô cùng đau khổ. Điều đáng chú ý là khi đoàn tụ với cha mẹ, những đứa trẻ này rất khó được xoa dịu, và thường bộc lộ những hành vi mâu thuẫn cho thấy chúng muốn được an ủi, nhưng cũng muốn “trừng phạt” vì cha mẹ đã bỏ đi. Những đứa trẻ này được xếp vào kiểu gắn bó lo âu – né tránh. Hình thức gắn kết thứ ba mà Ainsworth và các đồng nghiệp của cô đã ghi lại được là kiểu gắn bó né tránh. Những đứa trẻ thuộc kiểu né tránh (khoảng 20%) không tỏ ra quá đau khổ vì sự chia ly, và khi đoàn tụ, chúng tránh tìm đến cha mẹ, đôi khi chúng chủ động chuyển sự chú ý của mình vào các món đồ chơi ở phòng thí nghiệm.

Nghiên cứu của Ainsworth quan trọng vì ít nhất ba lý do. Đầu tiên, bà đã cung cấp một trong những bằng chứng thực nghiệm đầu tiên về cách hành vi gắn bó được hình thành trong cả bối cảnh an toàn và hoảng sợ. Thứ hai, bà đã đưa ra phương pháp phân loại thực nghiệm đầu tiên về sự khác biệt mang tính cá nhân trong các kiểu gắn bó của trẻ sơ sinh. Theo nghiên cứu của bà, có ít nhất ba loại trẻ em: trẻ em an toàn trong mối quan hệ với cha mẹ, trẻ em lo âu – chống đối và trẻ em lo âu – né tránh. Cuối cùng, bà đã chứng minh rằng những khác biệt mang tính cá nhân này có tương quan với tương tác giữa trẻ sơ sinh và cha mẹ trong những năm đầu đời. Ví dụ, những đứa trẻ tỏ ra an toàn trong “tình huống lạ” thường có xu hướng có cha mẹ đáp ứng nhu cầu của chúng. Những đứa trẻ tỏ ra bất an trong “tình huống lạ” (tức là lo âu – chống đối hoặc né tránh) thường có cha mẹ không nhạy cảm với nhu cầu của chúng, không nhất quán hoặc từ chối cung cấp sự chăm sóc mà chúng cần. Trong những năm sau đó, một số nhà nghiên cứu đã chứng minh được mối liên hệ giữa sự nhạy cảm và phản hồi sớm các nhu cầu của trẻ từ phía cha mẹ và kiểu gắn bó an toàn ở trẻ.

Mối quan hệ lãng mạn (quan hệ lứa đôi)

Mặc dù Bowlby chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu bản chất của mối quan hệ giữa trẻ sơ sinh với người chăm sóc, nhưng ông tin rằng các kiểu hình gắn bó sẽ theo con người suốt đời. Tuy nhiên, phải đến giữa thập niên 80, các nhà nghiên cứu mới bắt đầu nghiêm túc xem xét về các kiểu gắn bó có thể có ở người trưởng thành. Hazan và Shaver (1987) là hai trong số những nhà nghiên cứu đầu tiên khám phá những ý tưởng của Bowlby trong bối cảnh các mối quan hệ lãng mạn. Theo Hazan và Shaver, tình cảm lãng mạn được phát triển giữa hai người trưởng thành là một phần của sự vận động của cùng một hệ thống động lực – hệ thống hành vi gắn bó – làm nảy sinh tình cảm giữa trẻ sơ sinh và người chăm sóc chúng. Hazan và Shaver lưu ý rằng mối quan hệ giữa trẻ sơ sinh – người chăm sóc và mối quan hệ giữa những cặp đôi trưởng thành có chung những đặc điểm sau:

  • Cảm thấy an toàn khi người kia ở gần và phản hồi.

  • Có những tiếp xúc gần gũi, thân mật và tiếp xúc cơ thể.

  • Cảm thấy không an toàn khi người kia không thể tiếp cận được.

  • Cùng nhau chia sẻ những khám phá, sáng tạo mới.

  • Chơi đùa với các đặc điểm trên khuôn mặt của nhau và thể hiện sự say mê và bận tâm lẫn nhau.

  • Có ngôn ngữ riêng trong mối quan hệ giữa hai người.

Trên cơ sở những điểm tương đồng này, Hazan và Shaver lập luận rằng các mối quan hệ lãng mạn của người lớn, tương tự như mối quan hệ với người chăm sóc – trẻ sơ sinh, là sự gắn bó, và tình yêu lãng mạn chính là một thuộc tính của hệ thống hành vi gắn bó, cũng chính là động lực dẫn đến sự chăm sóc hay tình dục.

Ba hàm ý của thuyết gắn bó ở người trưởng thành

Ý tưởng cho rằng mối quan hệ lãng mạn có thể là mối quan hệ gắn bó đã có ảnh hưởng sâu sắc đến những nghiên cứu hiện đại về những mối quan hệ thân mật. Có ít nhất ba hàm ý quan trọng cần lưu ý.

Đầu tiên, nếu mối quan hệ lứa đôi lãng mạn tương đồng với mối quan hệ gắn bó, thì chúng ta nên quan sát những sự khác biệt mang tính cá nhân mà Ainsworth đã quan sát thấy trong mối quan hệ giữa trẻ sơ sinh và người chăm sóc. Chẳng hạn, chúng ta có thể giả định rằng một số người trưởng thành cảm thấy an toàn trong các mối quan hệ, tin tưởng rằng đối tác của họ sẽ ở đó khi cần thiết và cho phép bản thân phụ thuộc vào đối tác và để đối tác phụ thuộc vào họ. Ngược lại, cũng sẽ có những người không an toàn trong các mối quan hệ của họ. Ví dụ, một số người không an toàn theo kiểu lo âu – chống đối: họ lo lắng rằng những người khác có thể không yêu họ hoàn toàn, và khi nhu cầu gắn bó của họ không được đáp ứng, họ dễ dàng thất vọng hoặc tức giận. Những người không an toàn theo kiểu né tránh: có thể tỏ ra không quan tâm quá nhiều đến các mối quan hệ thân thiết, và có thể không muốn quá phụ thuộc vào người khác hoặc để người khác quá phụ thuộc vào họ.

Thứ hai, nếu mối quan hệ lứa đôi lãng mạn là một mối quan hệ gắn bó, thì cách thức hoạt động của một mối quan hệ lứa đôi phải tương tự như cách thức hoạt động của mối quan hệ giữa người chăm sóc và trẻ sơ sinh. Nói cách khác, yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc khám phá ở trẻ em (có một người chăm sóc nhiệt tình), thì ở người lớn cũng phải có một yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự do khám phá, sáng tạo và theo đuổi đam mê tương tự (có một đối tác nhiệt tình). Những yếu tố làm cho người gắn bó trở nên “đáng trông đợi” đối với trẻ sơ sinh là sự hiện diện và sự phản hồi, cũng phải là những yếu tố mà người trưởng thành đang mong đợi ở người yêu/bạn đời của mình. Nói tóm lại, sự khác biệt mang tính cá nhân trong thuyết gắn bó ở người trưởng thành phải ảnh hưởng đến quan hệ và chức năng cá nhân tương tự như trong nghiên cứu với trẻ sơ sinh.

Thứ ba, việc một người lớn an toàn hay không an toàn trong các mối quan hệ có thể là sự phản ánh một phần kinh nghiệm của họ trong mối quan hệ với những người chăm sóc từ thuở ấu thơ. Bowlby tin rằng các biểu hiện tinh thần hoặc mô thức làm việc (kỳ vọng, niềm tin, “quy tắc” hoặc “kịch bản” cho hành vi và suy nghĩ) mà một đứa trẻ nắm giữ liên quan đến các mối quan hệ là một chức năng của trải nghiệm chăm sóc của trẻ. Chẳng hạn, một đứa trẻ an toàn có xu hướng tin rằng những người khác sẽ ở đó vì nó dựa trên những kinh nghiệm trước đây nên dẫn đến kết luận này. Một khi trẻ đã phát triển những kỳ vọng như vậy, trẻ sẽ có xu hướng tìm kiếm những trải nghiệm quan hệ phù hợp với những kỳ vọng đó và nhận thức người khác theo cách được tô màu bởi những niềm tin đó. Theo Bowlby, loại quá trình này sẽ thúc đẩy sự liên tục trong các kiểu gắn bó trong suốt cuộc đời, mặc dù có thể kiểu gắn bó của một người sẽ thay đổi nếu trải nghiệm quan hệ của họ không phù hợp với mong đợi của họ. Tóm lại, nếu chúng ta giả định rằng các mối quan hệ lứa đôi lãng mạn là mối quan hệ gắn bó, thì có thể những đứa trẻ đã được an toàn khi còn nhỏ sẽ lớn lên và tìm kiếm được sự an toàn trong các mối quan hệ lãng mạn của chúng. Hoặc, tương tự, những người an toàn khi trưởng thành trong mối quan hệ với cha mẹ của họ sẽ có nhiều khả năng tạo dựng những mối quan hệ an toàn với các đối tác mới.

Trong các phần dưới đây, tôi sẽ đề cập ngắn gọn ba hàm ý này dựa trên những nghiên cứu ban đầu và đương thời về thuyết gắn bó ở người trưởng thành.

Liệu chúng ta có thể tìm thấy ở người lớn các kiểu gắn bó tương tự như trẻ em không?

Nghiên cứu đầu tiên về thuyết gắn bó ở người trưởng thành liên quan đến việc nghiên cứu mối liên hệ giữa sự khác biệt mang tính cá nhân trong thuyết gắn bó ở người trưởng thành và cách họ hồi tưởng những ký ức về mối quan hệ giữa họ với cha mẹ. Hazan và Shaver (1987) đã phát triển một bảng câu hỏi đơn giản để đo lường những khác biệt mang tính cá nhân này (Những khác biệt mang tính cá nhân này thường được gọi là phong cách gắn bó, kiểu gắn bó, xu hướng gắn bó hoặc sự khác biệt trong tổ chức hệ thống gắn bó). Tóm lại, Hazan và Shaver yêu cầu đối tượng nghiên cứu đọc ba đoạn văn được liệt kê dưới đây và cho biết đoạn văn nào mô tả rõ nhất cách họ suy nghĩ, cảm nhận và cư xử trong các mối quan hệ thân thiết:

A. Tôi có một chút không thoải mái khi gần gũi với người khác; tôi cảm thấy khó tin tưởng họ hoàn toàn, khó cho phép mình phụ thuộc vào họ. Tôi lo lắng khi có người tiếp cận và tỏ ra quá thân thiết, và thường thì người yêu của tôi muốn tôi trở nên thân mật hơn mức mà tôi cảm thấy thoải mái. [Kiểu gắn bó né tránh]

B. Tôi thấy tương đối dễ gần với người khác và cảm thấy thoải mái khi phụ thuộc vào họ và hoặc cho phép họ phụ thuộc vào tôi. Tôi không lo lắng về việc bị bỏ rơi hoặc về việc ai đó đang quá thân thiết với tôi. [Kiểu gắn bó an toàn]

C. Tôi thấy rằng người khác không sẵn lòng thân thiết như tôi muốn. Tôi thường lo lắng rằng người yêu của tôi không thực sự yêu tôi hoặc không muốn cam kết với tôi. Tôi muốn thật gần gũi và gắn kết với người yêu của mình, và điều này đôi khi khiến họ sợ hãi. [Kiểu gắn bó lo âu – chống đối]

Dựa trên thước đo ba danh mục này, Hazan và Shaver nhận thấy rằng sự phân bố các danh mục tương tự như quan sát được ở giai đoạn sơ sinh. Nói cách khác, khoảng 60% người trưởng thành tự cho mình là kiểu gắn bó an toàn (đoạn B), khoảng 20% ​​tự nhận mình là kiểu gắn bó né tránh (đoạn A), và khoảng 20% ​​tự cho mình là kiểu người lo âu – chống đối (đoạn C).

Mặc dù biện pháp này là một cách hữu ích để nghiên cứu mối liên hệ giữa các kiểu gắn bó và sự vận động của một mối quan hệ, nhưng nó không cho phép kiểm tra đầy đủ giả thuyết rằng các loại khác biệt mang tính cá nhân được quan sát thấy ở trẻ sơ sinh có giống với ở người lớn hay không. (Theo nhiều cách, phép đo Hazan và Shaver cho rằng điều này là đúng). Nghiên cứu tiếp theo đã khám phá giả thuyết này theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ: Kelly Brennan và các đồng nghiệp của cô ấy đã thu thập một số lời tuyên bố (ví dụ: “Tôi tin rằng những người khác sẽ ở đó với tôi khi tôi cần họ”) và nghiên cứu cách những lời tuyên bố này “gắn kết với nhau” theo phương pháp thống kê (Brennan, Clark, & Shaver, 1998). 

Phát hiện của Brennan gợi ý rằng có hai khía cạnh cơ bản đối với các kiểu gắn bó của người lớn (Biểu thị thành 2 chiều lo âu và né tránh, xem Hình 2). 

Khía cạnh thứ nhất được biểu thị dưới dạng trục hoành (trục nằm ngang) và được gọi là trục lo âu. Những người ở thang điểm cao trên trục này thường lo lắng liệu đối tác của họ có sẵn sàng đáp ứng và để tâm đến họ hay không, v.v. Những người ở thang điểm thấp cảm thấy an toàn hơn về sự nhạy cảm và phản hồi của đối tác.

Khía cạnh thứ hai được biểu thị dưới dạng trục tung (trục đứng) và được gọi là trục né tránh. Những người ở thang điểm càng cao trên trục này càng không thích dựa dẫm vào hoặc cởi mở với người khác. Ngược lại, những người ở thang điểm thấp cảm thấy thoải mái hơn khi thân mật với người khác và an toàn hơn khi phụ thuộc vào người khác hoặc để người khác phụ thuộc vào họ.

Kiểu người an toàn sẽ ở thang điểm thấp ở cả hai chiều này.

Phát hiện của Brennan là rất quan trọng vì các phân tích thời điểm đó về mô hình thống kê về hành vi của trẻ sơ sinh trong “tình huống lạ” cho thấy hai khía cạnh tương tự về sự vận động: một mặt cho thấy sự thay đổi trong lo lắng và phản kháng của đứa trẻ và mặt khác nắm bắt sự thay đổi trong mức độ sẵn sàng xem cha mẹ chúng như một vị trí hỗ trợ an toàn và đáng tin cậy (Fraley & Spieker, 2003a, 2003b). Về mặt chức năng, những khía cạnh này tương tự như hai khía cạnh được phát hiện khi nghiên cứu ở những người trưởng thành (lo âu và né tránh), cho thấy rằng những kiểu gắn bó tương tự có tồn tại ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời.

Dựa trên những phát hiện của Brennan, cũng như nghiên cứu về phân loại được xuất bản bởi Fraley và Waller (1998), hầu hết các nhà nghiên cứu hiện đang khái niệm hóa và tìm cách đo lường sự khác biệt mang tính cá nhân trong các chiều gắn kết thay vì phân loại. Có nghĩa là, người ta cho rằng các kiểu gắn bó sẽ khác nhau về mức độ hơn là phân loại. Các thước đo phổ biến nhất của kiểu gắn bó dành cho người lớn là ECR của Brennan, Clark, và Shaver (1998) và ECR-R của Fraley, Waller, và Brennan (2000) (một phiên bản sửa đổi của ECR). Cả hai công cụ tự báo cáo này đều cung cấp điểm số dựa trên hai khía cạnh liên quan đến sự gắn bó là lo âu và né tránh.

Mối quan hệ lứa đôi lãng mạn liệu có cách thức hoạt động giống như cách mà mối quan hệ giữa trẻ sơ sinh và người chăm sóc hoạt động hay không?

Hiện nay, ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các mối quan hệ lứa đôi có cách thức hoạt động tương tự như mối quan hệ giữa người chăm sóc và trẻ sơ sinh, tất nhiên, vẫn tồn tại một số ngoại lệ đáng chú ý. Nghiên cứu về xu hướng tự nhiên của những người trưởng thành khi phải chia tay người yêu của họ tại sân bay đã chứng minh rằng các hành vi thể hiện sự phản kháng đối với sự quan tâm và các hành vi thể hiện sự gắn bó là có căn cứ, và các hành vi này sẽ tùy thuộc vào phong cách gắn bó của từng người (Fraley & Shaver, 1998). Chẳng hạn, trong khi các cặp đôi phải chia xa thường cho thấy hành vi gắn bó nhiều hơn các cặp đôi không phải chia tay tại sân bay; những người kiểu né tránh sẽ thể hiện hành vi gắn bó ít hơn nhiều so với những người thuộc kiểu ít né tránh. 

Trong các phần dưới đây, tôi sẽ thảo luận về một số điểm tương đồng đã được khám phá giữa cách thức vận động/thay đổi của mối quan hệ người chăm sóc – trẻ sơ sinh và mối quan hệ lứa đôi lãng mạn.

Lựa chọn người yêu (hoặc bạn đời)

Các nghiên cứu ở nhiều nền văn hóa cho thấy việc phát triển kiểu gắn bó an toàn cho trẻ trong giai đoạn sơ sinh được các bà mẹ mong muốn nhất (van IJzendoorn & Sagi, 1999). Vì những lý do khách quan, không có nghiên cứu nào tương tự hỏi trẻ sơ sinh xem chúng có thích một người chăm sóc thuộc kiểu gắn bó an toàn hay không. Những người trưởng thành tìm kiếm mối quan hệ lâu dài dựa trên những phẩm chất có ở một người chăm sóc tốt, chẳng hạn như sự chu đáo, ấm áp và nhạy cảm, là điểm “hấp dẫn” nhất ở các đối tác hẹn hò tiềm năng (Zeifman & Hazan, 1997). Mặc cho sự hấp dẫn của phẩm chất an toàn, không phải tất cả mọi người đều thích ổn định với một người an toàn. Một số bằng chứng cho thấy rằng có những người sẽ kết thúc mối quan hệ khi đối tác của họ có niềm tin về các mối quan hệ có sự cam kết, gắn bó (Frazier và cộng sự, 1997).

Nền tảng an toàn và hành vi của kiểu người gắn bó an toàn 

Ở giai đoạn sơ sinh, đứa trẻ thuộc kiểu an toàn có xu hướng điều chỉnh hành vi tốt nhất, chúng tương đối kiên cường, hòa đồng với các bạn và được mọi người yêu mến. Các kiểu biểu hiện tương tự cũng xuất hiện trong nghiên cứu về sự gắn bó ở người lớn. Nhìn chung, những người trưởng thành thuộc kiểu an toàn có xu hướng hài lòng với các mối quan hệ của họ so với những người thuộc kiểu không an toàn. Các mối quan hệ của họ luôn có tuổi thọ dài hơn, luôn tin tưởng, cam kết và có sự phụ thuộc lẫn nhau (Feeney, Noller, & Callan, 1994). Và kiểu người an toàn thường xem người yêu/bạn đời của họ như một nền tảng an toàn và vững chắc để họ có thể tự do theo đuổi đam mê và khám phá thế giới (Fraley & Davis, 1997). 

Phần lớn các nghiên cứu về sự gắn bó ở người trưởng thành là để khám phá các cơ chế hành vi và tâm lý giúp phát triển cảm giác an toàn và những hành vi dựa trên nền tảng của sự an toàn. Cho đến nay đã có hai khám phá lớn. 

Đầu tiên, theo thuyết gắn bó, những người trưởng thành an toàn có nhiều khả năng tìm kiếm sự hỗ trợ từ bạn đời khi gặp khó khăn thường xuyên hơn những người trưởng thành không an toàn. Hơn nữa, họ cũng có thể trở thành điểm tựa khi đối tác của họ đang gặp khó khăn (Simpson và cộng sự, 1992). 

Thứ hai, người thuộc kiểu không an toàn sẽ đưa ra những kết luận tiêu cực liên quan đến hành vi của đối tác trong và sau các xung đột, thay vì làm giảm bớt sự bất an và cải thiện mối quan hệ (Simpson và cộng sự, 1996).

Kiểu gắn bó né tránh và cơ chế phòng vệ

Theo thuyết gắn bó, trẻ sẽ có xu hướng thể hiện hành vi gắn bó khác nhau để điều chỉnh mức độ lo lắng. Chẳng hạn, sau khi chia ly và đoàn tụ, một số trẻ thuộc kiểu không an toàn vẫn sẽ đến gần cha mẹ của chúng, nhưng trong sự mâu thuẫn và phản kháng, trong khi những đứa trẻ khác còn trốn biệt khỏi phụ huynh, dường như điều này sẽ làm giảm bớt sự gắn bó giữa chúng và cha mẹ trong cảm giác và hành vi. Một trong những câu hỏi lớn trong nghiên cứu về sự gắn bó của trẻ sơ sinh là liệu những đứa trẻ trốn tránh khỏi cha mẹ có thực sự bớt đau buồn hơn, hay liệu hành vi phòng vệ này chỉ là sự che đậy cho cảm giác dễ bị tổn thương thực sự của chúng. Nghiên cứu đã đo lường khả năng chú ý ở trẻ, nhịp tim hoặc nồng độ hormone căng thẳng cho thấy rằng những đứa trẻ trốn tránh cảm thấy đau khổ vì sự chia ly mặc dù chúng có những biểu hiện điềm tĩnh và phòng thủ.

Nghiên cứu gần đây về sự gắn bó của người lớn đã tiết lộ một số phức tạp thú vị liên quan đến mối quan hệ giữa tránh né và phòng thủ. Mặc dù một số người lớn né tránh, kiểu người sợ hãi – né tránh, thích nghi kém mặc dù bản chất phòng thủ của họ, những người khác, kiểu người làm lơ – né tránh, có thể sử dụng các chiến lược phòng thủ theo cách thích ứng. Chẳng hạn, trong một thử nghiệm mà trong đó mọi người được hướng dẫn nói lên suy nghĩ của họ về việc người yêu/bạn đời của họ sẽ ra đi mãi mãi, Fraley và Shaver (1997) nhận thấy rằng những người làm lơ – né tránh (những người đạt điểm cao trên thang đo mức độ né tránh, nhưng đạt điểm thấp trên thang đo mức độ lo âu) cũng đau khổ về mặt sinh lý (được đánh giá bằng các biện pháp đo kích ứng da) tương tự những người khác. Tuy nhiên, khi được hướng dẫn để kìm nén suy nghĩ và cảm xúc của họ, các cá nhân này lại có thể làm điều đó một cách hiệu quả hơn những người còn lại. Họ có thể vô hiệu hóa kích thích sinh lý ở một mức độ nào đó và giảm thiểu sự chú ý của họ vào những suy nghĩ liên quan đến gắn bó. Những người thuộc kiểu sợ hãi – né tránh thì không thành công trong việc kìm nén cảm xúc của mình.

Các kiểu gắn bó liệu có ổn định từ lúc còn là trẻ sơ sinh đến khi trưởng thành không?

Có lẽ hàm ý khiêu khích và gây tranh cãi nhất của thuyết gắn bó ở người trưởng thành là phong cách gắn bó của một người khi trưởng thành được hình thành bởi sự tương tác của người đó với người gắn bó (cha mẹ, người nuôi dưỡng từ nhỏ). Mặc dù có ý kiến ​​cho rằng những trải nghiệm gắn bó ban đầu có thể có ảnh hưởng đến phong cách gắn bó trong các mối quan hệ lứa đôi là tương đối khó kiểm chứng, nhưng giả thuyết về nguồn gốc và mức độ trùng lặp giữa hai loại định hướng gắn bó đã gây tranh cãi.

Có ít nhất hai vấn đề xảy ra khi xem xét câu hỏi về sự ổn định: (a) Có bao nhiêu điểm tương đồng giữa những người thuộc kiểu an toàn với những người khác trong đời họ (ví dụ: mẹ, cha hay người yêu?) và (b) Đối với bất kỳ mối quan hệ nào trong số này, sự an toàn sẽ được ổn định trong bao lâu?

Đối với vấn đề đầu tiên này, có vẻ như có sự trùng lặp rất ít giữa mức độ an toàn của mọi người với mẹ của họ và mức độ an toàn của họ với người bạn đời lãng mạn của mình. Fraley, chẳng hạn, đã thu thập kết quả tự báo cáo về phong cách gắn bó hiện tại của một người với một nhân vật gắn bó từ nhỏ (như cha mẹ) và người yêu hiện tại, ông nhận thấy mối tương quan nằm trong khoảng từ .20 đến .50 (tức là nhỏ đến vừa phải) giữa hai loại mối quan hệ gắn bó.

Đối với vấn đề thứ hai, sự ổn định của sự gắn bó của một người với cha mẹ của một người dường như bằng một mối tương quan trong khoảng .25 đến .39 (Fraley, 2002). Chỉ có một trường hợp nghiên cứu dài hạn đã được đánh giá mối liên hệ giữa mức độ an toàn khi tham gia trong “tình huống lạ”  lúc một tuổi và mức độ an toàn của người đó 20 năm sau trong các mối quan hệ lứa đôi khi trưởng thành. Nghiên cứu chưa được công bố này đã phát hiện ra mối tương quan .17 giữa hai biến này (Steele, Waters, Crowell, & Treboux, 1998).

Mối liên hệ giữa trải nghiệm gắn bó thuở sơ sinh và phong cách gắn bó khi trưởng thành cũng đã được kiểm tra trong các nghiên cứu hồi cứu. Hazan và Shaver (1987) nhận thấy rằng những người trưởng thành an toàn trong các mối quan hệ lãng mạn của họ thường có ký ức về thời thơ ấu với cha mẹ là tình cảm trìu mến, thái độ quan tâm và chấp nhận (xem thêm Feeney & Noller, 1990).

Dựa trên những loại nghiên cứu này, có vẻ như kiểu gắn bó trong mối quan hệ cha mẹ – con và kiểu gắn bó trong mối quan hệ lứa đôi chỉ có liên quan ở mức độ vừa phải. Ý nghĩa của những phát hiện như vậy đối với thuyết gắn bó ở người trưởng thành là gì? Theo một số nhà văn, mệnh đề quan trọng nhất của thuyết này là hệ thống gắn bó, một hệ thống căn bản phù hợp với hệ sinh thái của trẻ sơ sinh, tiếp tục ảnh hưởng đến hành vi, suy nghĩ và cảm giác ở tuổi trưởng thành (Fraley & Shaver, 2000). Đề xuất này có thể giữ nguyên bất kể sự khác biệt mang tính cá nhân một cách có hệ thống và vẫn ổn định trong hơn một thập kỷ trở lên, ổn định qua các loại mối quan hệ gần gũi khác nhau.

Mặc dù các cơ chế xã hội và nhận thức được các nhà nghiên cứu thuyết gắn bó ngụ ý về sự ổn định trong phong cách gắn bó có thể là quy luật chứ không phải là ngoại lệ, những cơ chế cơ bản này có thể dự đoán tính liên tục hoặc không liên tục trong dài hạn, tùy thuộc vào cách thức mà chúng được hình thành. Fraley (2002) đã thảo luận về hai mô hình liên tục bắt nguồn từ thuyết gắn bó đưa ra các dự đoán khác nhau về tính liên tục dài hạn mặc dù chúng được suy ra từ các nguyên tắc lý thuyết cơ bản giống nhau. Mỗi mô hình cho thấy sự khác biệt mang tính cá nhân trong thuyết gắn bó được hình thành bởi những trải nghiệm phong phú trong mối quan hệ với người chăm sóc thuở ấu thơ, và vì vậy, những biểu hiện ban đầu này định hình chất lượng của các trải nghiệm trong các mối quan hệ gắn bó về sau. Tuy nhiên, một mô hình giả định rằng kiểu gắn bó hiện có của một người sẽ tiếp tục được cập nhật và thay đổi theo những trải nghiệm mới. Các phân tích toán học cho thấy rằng mô hình này dự đoán rằng sự ổn định lâu dài của những khác biệt mang tính cá nhân sẽ tiến gần về con số 0 (sẽ không còn khác biệt). Mô hình thứ hai tương tự như mô hình đầu tiên, nhưng có thêm giả định bổ sung rằng các kiểu gắn bó được phát triển trong những năm đầu đời sẽ được giữ nguyên (nghĩa là sẽ không được cập nhật và thay đổi theo những trải nghiệm mới) và tiếp tục ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân trong các môi quan hệ trong suốt đời. Các phân tích của mô hình này cho thấy rằng sự ổn định dài hạn có thể đạt đến một giá trị giới hạn khác 0. Điểm quan trọng ở đây là các nguyên tắc của thuyết gắn bó có thể được sử dụng để rút ra các mô hình phát triển đưa ra các dự đoán khác nhau về tính ổn định lâu dài của những khác biệt mang tính cá nhân. Dựa trên phát hiện này, sự tồn tại ổn định lâu dài của các khác biệt cá nhân nên được coi là một câu hỏi thực nghiệm hơn là một giả định của lý thuyết.

Các câu hỏi nổi bật và hướng nghiên cứu về thuyết gắn bó ở người trưởng thành trong tương lai.

Vẫn còn một số câu hỏi mà các nghiên cứu ở hiện tại và tương lai về thuyết gắn bó cần giải quyết. Ví dụ, có thể xảy ra trường hợp, một số mối quan hệ lứa đôi có các đặc tính tương đồng với mối quan hệ gắn bó, tuy vậy một số khác thì không. Các nhà nghiên cứu trong tương lai sẽ cần tìm cách xác định rõ hơn liệu một mối quan hệ có đang là mối quan hệ gắn bó hay không. Thứ hai, mặc dù chúng ta đã rõ ràng tại sao hành vi gắn bó có thể phục vụ một chức năng tiến hóa quan trọng trong giai đoạn sơ sinh, nhưng vẫn chưa rõ rằng liệu sự gắn bó có phục vụ một chức năng tiến hóa quan trọng ở người trưởng thành hay không. Thứ ba, chúng ta vẫn chưa hiểu rõ về các yếu tố chính xác có thể thay đổi phong cách gắn bó của một người. Để cải thiện đời sống của nhân loại, cần phải tìm hiểu thêm về các yếu tố hình thành nên kiểu gắn bó an toàn và các mối quan hệ hạnh phúc.

Dịch theo bài tiểu luận của tác giả R. Chris Fraley (2018)

Để tìm hiểu thêm về những lý thuyết và nghiên cứu liên quan, đọc giả có thể tìm hiểu thêm trong cuốn sách “Adult Attachment: A Concise Introduction to Theory and Research” của các tác giả Omri, Gery và Chris Fraley (tác giả của bài tiểu luận này).

Nguồn: openedu

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Most Popular

Recent Comments