Home Tin tức Khởi nghiệp Những sự kiện gắn từ “Great” và “bình minh” cho Việt...

Những sự kiện gắn từ “Great” và “bình minh” cho Việt Nam

Từ khủng hoảng kinh tế 1929-1933 với tên gọi “Great Depresion” (Đại Suy thoái) đến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 “Great Crisis” (Đại Khủng hoảng). Giờ đây, thế giới lại đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng mới cũng bắt đầu bằng từ “Great” – “Great Lockdown” (Đại Đình trệ). Có nhiều hoài nghi, liệu có hay không một cơ hội mảy may nào đó khởi phát ra từ chính nơi đầm lầy này. Và nếu có thì nó thực sự đáng giá cho sự nghiệp đổi mới cũng như trước mắt là đón cho được “bình minh” trên đất nước hình chữ “S” của chúng ta.

Ảnh: IMF

Nhân loại đã từng trải qua những ngày tháng vô cùng khó khăn trong Đại Suy thoái 1929-1933, một cột mốc quan trọng trong kinh tế học và lịch sử thế giới, chính sự kiện này cũng góp phần gây ra Thế Chiến II. Điều đáng nói là sau Thế Chiến và thế giới đi vào giai đoạn buộc phải tự nhìn nhận lại mình để thay đổi và tái thiết về kinh tế, lý thuyết “bàn tay vô hình” đã không còn chứng tỏ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Đến những thập niên 1970 và 1980, đây là thời điểm hình thành và phát triển mạnh mẽ của các tập đoàn đa quốc gia, là động lực chính của làn sóng toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ và kéo dài cho đến tận ngày nay.
Sau hơn 70 năm, một cuộc khủng hoảng khác bắt đầu từ thị trường tài chính, tàn phá qua mọi quốc gia mà khởi đầu là Hoa Kỳ vào những năm 2007-2009. Trải qua cơn ác mộng này, toàn cầu lại buộc phải có những bước điều chỉnh về các học thuyết kinh tế trong vận hành và quản lý để hạn chế các cuộc khủng hoảng mang tính chu kỳ mà sự điều chỉnh nổi bật nhất chính là phủ nhận lý thuyết “too big to fall” và sự tách biệt hoàn toàn giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.
Nếu như Đại Suy thoái và Thế Chiến II đã vô tình đóng vai trò như một bản lề mở ra sự thịnh vượng cho những quốc gia như Nhật Bản và Hàn Quốc khi họ đón đầu được xu hướng toàn cầu hóa, thì sau cơn “bão” năm 2008, Trung Quốc nổi lên như một “siêu cường tiềm năng” biết tận dụng lợi thế là nơi có thị trường tiêu thụ lớn, mật độ tập trung cao các chuỗi cung ứng để tái sản xuất, kích cầu và tạo cú hích cho kinh tế toàn cầu nói chung và Trung Quốc nói riêng.
Rõ ràng, khi các cuộc khủng hoảng toàn cầu xảy ra thì luôn đòi hỏi những giải pháp cũng phải ở cấp độ toàn cầu, theo sau đó chính là sự xuất hiện thêm những gương mặt mới trên sân khấu dành cho những “Sao hạng A” của nền kinh tế thế giới. Nếu theo câu nói “sau cơn mưa, trời lại sáng” thì quả thật “Mặt Trời” đã mọc sớm nhất từ những quốc gia này.
Gần đây, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã gọi tình trạng trì trệ mà toàn cầu đang gặp phải khi hầu hết các nền kinh tế đều đang bị “nhiễm bệnh” là Great Lockdown (tạm dịch: Đại Đình trệ). Đồng thời, IMF cũng cho rằng đây là cuộc suy thoái nghiêm trọng nhất mà thế giới phải gánh chịu kể từ thời kỳ Đại Suy thoái đã kể trên. Ở quá khứ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã đáp lại tiếng gọi sứ mệnh của mình, liệu lúc này có phải đến lượt của Việt Nam?
Trước những điều kiện bất lợi, bản thân Việt Nam cũng đã ý thức nên thay đổi trước một thế giới mới. Một “trạng thái bình thường mới” được đặt ra nhằm kêu gọi toàn xã hội thay đổi lối sống để thích nghi cho phù hợp. Nhưng kết quả đến nay có thể thấy, rõ ràng là “bình thường nhưng chưa có gì mới!”. Câu chuyện cần bàn luận chính là định nghĩa thế nào về quan niệm “bình thường mới” này.
Có thể nói, theo tôi cảm nhận, chúng ta có một “văn hóa đánh trận” trở thành đặc trưng và chưa bao giờ lỗi thời của đất nước trong suốt chiều dài lịch sử, đó là lối đánh du kích. Từ thời của Triệu Quang Phục giữ binh ở đầm Dạ Trạch chống quân Lương xâm lược đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ bằng sách lược tận dụng điểm yếu và thời cơ của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, giờ đây, không gì ngoài du kích chính là một lựa chọn lý tưởng để ta “dụng binh” trên mặt trận kinh tế.
Ý tưởng đó đã từng xuất hiện vào năm 2009 khi Chính phủ đề xuất tung một gói hỗ trợ trị giá 8 tỷ USD vào nền kinh tế, TS. Trần Du Lịch lúc bấy giờ khi tham gia tư vấn đã có một đề nghị nôm na rằng, “thay vì tiền đó chúng ta dùng làm một cái “đám ma”, thì bây giờ biến cái “đám ma” thành cái “đám cưới” luôn!”. Ông Trần Du Lịch cho rằng Việt Nam hơn lúc nào hết cần phải tái cấu trúc nền kinh tế. Tận dụng lúc thế giới đi chậm lại để ta tăng tốc, lúc toàn cầu “sơ hở” để ta “tiến công”, chính là lối đánh du kích trong thời đại mà “chiến tranh” đã hạ nhiệt thành “cạnh tranh” như ngày nay. Tuy nhiên, ý kiến ấy vì nhiều lý do khách quan đã không được ủng hộ. Phải đến năm 2011, Đại hội XI diễn ra và đưa vào Nghị quyết chủ trương “chuyển đổi mô hình tăng trưởng” – bản chất của nó chính là “tái cấu trúc nền kinh tế” như ông Lịch đã từng tham vấn, thì “cuộc sống mới” đó mới bắt đầu.
Chủ trương chuyển đổi đó dựa trên ba khâu đột phá chiến lược mà trọng tâm là cải cách thể chế. Đó đều là những chủ trương đúng, điều gây băn khoăn chính là độ trễ về mặt tư duy. Đổi Mới phải đến năm 1986 mới được chấp nhận mặc dù đã tồn tại “không chính thức” từ trước đó hơn nửa thập kỷ. Giờ đến lượt tái cấu trúc nền kinh tế này, lẽ ra phải làm ngay khi vừa tan “bão”, thì lại chờ đến “bình minh hôm kia” mới làm. Việc đó khiến ta bỏ lỡ quá nhiều cơ hội tăng tốc khi cả thế giới vẫn còn bận tay với đống lộn xộn “Great Crisis”.
Trở lại với “Great Lockdown” lần này, khi Việt Nam đưa ra tinh thần “trạng thái bình thường mới”, có thể thấy, Việt Nam đã làm được việc nhận thức sớm, tức là Việt Nam đã biết rằng mình phải nắm bắt. Vấn đề đặt ra là “bình thường” như thế nào thì gọi là “mới”. Nếu như so với năm 2009, chúng ta muốn có “cuộc sống mới”, chúng ta phải tìm kiếm cơ hội, nay với “bình thường mới” chúng ta đã có sẵn hầu hết các cơ hội. Giờ đây thế giới vẫn đang “sơ hở” thì “bình thường mới” chính là đánh “du kích” trên mặt trận kinh tế, câu chuyện là sẽ đánh bằng “vũ khí” gì.
Theo ý kiến chủ quan, tôi xin nêu ra ba mục tiêu để chúng ta có thể đón được “bình minh” cho đất nước Việt Nam.
Thứ nhất, việc luôn được lưu tâm trên hết chính là mặt thể chế. Tình trạng mà các doanh nghiệp đang gặp phải chính là vốn thì thiếu nhưng không vay nổi, còn các định chế tài chính có vốn nhưng không dám cho vay. Vì sao lại vậy? Rõ ràng là các gói hỗ trợ thì rất nhiều, về mặt “lượng” thì ổn nhưng về mặt “chất” thì chưa ổn. Nguyên nhân phổ biến là yếu tố lãi suất không đổi do cân nhắc đến tính an toàn. Có một bình luận mang tính khái quát cho nguyên nhân này: “Ở thời điểm hiện tại, giữ được mức lãi suất không đổi đã quá tốt. Nếu các ngân hàng và nhân viên tín dụng linh hoạt để giảm lãi suất thì khi dự án không hiệu quả và hình thành nợ xấu thì sau này có thể lấy lý do Covid-19 ra để tránh các chế tài pháp lý được hay không?!”. Ý kiến này cho thấy vấn đề mấu chốt chính là sự cứng nhắc trong thể chế. Rút kinh nghiệm từ độ trễ tư duy năm 2011, Việt Nam cần xây dựng ngay một thể chế đủ linh hoạt và nhạy bén trước hoàn cảnh, trong đó chọn lọc những quy định, thủ tục và thậm chí là pháp luật cần thiết phải được chủ động thay đổi cho phù hợp để khơi thông cho các chủ thể dám mạo hiểm mà “điều binh khiển tướng”, không phải rơi vào tình cảnh là người có công mà lại bị chế tài về sau.
Thứ hai, nhanh chóng khai thác các thị trường tiềm năng. Có thể thấy, Việt Nam sẽ có triển vọng đón được “bình minh” cao nhất bởi nơi đây cung cấp được môi trường đầu tư kinh doanh an toàn nhất tính cho đến thời điểm hiện tại. Cộng với việc cánh cổng đến với Việt Nam cho các đơn đặt hàng quốc tế lại càng rộng mở qua các Hiệp định như EVFTA, EVIPA cho phép nước ta tiếp cận với thị trường hơn 18.000 tỷ USD. Khi thông qua những văn bản này, tức là mức thuế suất của rất nhiều mặt hàng Việt Nam vào EU được giảm xuống 0%, với những công ty đã có hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm đạt chuẩn châu Âu thì cơ hội để tăng xuất khẩu hàng hóa vào khu vực này tăng lên đáng kể. Thậm chí, có thể tận dụng cả yếu tố tỷ giá hối đoái thấp của VND so với EUR khiến hàng hóa Việt Nam trở nên rẻ hơn trong khi chất lượng có thể sánh bằng, giúp củng cố thêm cho sức xuất khẩu của nước ta. Ngoài ra, các thị trường khác như Mỹ hay Hàn Quốc cũng đều có mức tăng trưởng xuất khẩu thấp trong 4 tháng đầu năm nay, do đó mở ra thêm cho Việt Nam những cơ hội tốt. Bên cạnh đó, nhiều chuỗi cung ứng toàn cầu đang lựa chọn những địa chỉ lý tưởng mới và Việt Nam là một trong số đó. Nếu chủ động tạo ra những lợi thế so sánh rõ rệt hơn thì sẽ giải quyết được những vấn đề lớn khác như tình trạng thừa lao động sau đại dịch.
Thứ ba, chủ động lan tỏa những giá trị Việt Nam. Toàn cầu hóa hiện nay luôn đóng một vai trò then chốt trong việc định hình các cuộc chơi, nền kinh tế hiện tại là nền kinh tế với hàm lượng tri thức cao. Nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam, có thể nói, về trình độ chuyên môn thì khó có thể thua kém bất kỳ quốc gia nào, tuy nhiên, hàng rào kỹ thuật mà chúng ta vấp phải chính là ngoại ngữ lại đang khiến nước ta đánh mất nhiều cơ hội lớn để vươn mình. Trước tình thế đó, Chính phủ cần có một cơ cấu đầu tư mới cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội một cách hiệu quả dựa trên thể chế tốt, có các biện pháp hỗ trợ cho khối tư nhân để phát triển nguồn nhân lực hiện đại, rót vốn vào lĩnh vực, nghiên cứu và ứng dụng các sản phẩm khoa học công nghệ, trọng tâm ở công nghệ số và khoa học dữ liệu. Hướng tới mục tiêu sản phẩm Việt Nam được tạo ra không chỉ đủ sức cạnh tranh, không chỉ “Made in Vietnam” mà còn là “Made by Vietnam”. Rõ ràng, với quyết sách đầu tư công tích cực như vậy thì không chỉ vớt vát cho tăng trưởng GDP mục tiêu mà còn đón đầu được xu thế phát triển của nhân loại, một mũi tên trúng được hai đích. Ngoài ra, cần triển khai các chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút nhân tài cho đất nước, trước hết là nhân tài “gốc Việt”.
Theo dòng thời gian, khi “Great Depression” xảy ra, lúc đó Việt Nam vẫn còn chìm trong khói lửa chiến tranh, đến lượt “Great Crisis” xuất hiện, Việt Nam lại lỡ mất cơ hội “hóa rồng” cho bản thân mình. Giờ đây, khi “Great Lockdown” đến, dù muốn dù không thì thiệt hại phần nào là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, chúng ta đã nhận thức được, cơ hội hồi phục lúc này còn lớn lao hơn những gì ta đã gánh chịu, biết nắm bắt thời cơ thì chắc chắn sân khấu cho những “Sao hạng A” sẽ không thế thiếu cái tên Việt Nam. “Mặt Trời” sẽ mọc sớm nhất ở Việt Nam sau “cơn mưa” Covid-19.

Nguồn: vietnambusinessinsider.vn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Most Popular

Recent Comments