Những suy nghĩ về giáo dục cho công dân toàn cầu

0
68

Nguồn: Freepik.com
Tựa như dòng chảy đầy sức mạnh và hùng vĩ của sông Hudon, Đại học Sư phạm không ngừng tạo ra thế hệ lãnh đạo trẻ – những người sẽ tạo ra kỷ nguyên rực rỡ mới trong những thập niên tới. Thật vinh dự cho tôi khi có cơ hội được phát biểu tại đây, viện nghiên cứu hàng đầu về giáo dục ở Hoa Kỳ, một vị vua trong thế giới giáo dục với vương miện rực rỡ chiếu sáng tương lai.

Tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến Tổng thống Levine và tất cả những người có sự hỗ trợ đã giúp sự kiện này thành hiện thực. Tôi cũng muốn cảm ơn các nhà bình luận, những người sau này sẽ chia sẻ với chúng tôi những quan điểm của họ.

Hai mươi lăm năm trước, năm 1971, chúng tôi đã thành lập Đại học Soka ở Tokyo. Bốn năm sau, năm 1975, tôi được vinh dự đến thăm Đại học Columbia. Tôi không bao giờ quên được sự khích lệ nồng nhiệt và lời khuyên vô giá cho một ngôi trường đại học vẫn còn trong giai đoạn ấp ủ tại thời điểm đó. 

Ngày hôm nay, cùng với những cảm xúc khó tả khi tôi có cơ hội phát biểu tại ngôi trường đại học nơi mà triết gia nổi tiếng thế giới John Dewey đã từng dạy. Chủ tịch đầu tiên của Soka Gakkai, Tsunesaburo Makiguchi, người có tinh thần sáng lập Đại học Soka, đã tham khảo các tác phẩm và ý tưởng của Dewey trong tác phẩm năm 1930, Hệ thống sư phạm tạo giá trị (The System of Value-Creating Pedagogy).

Sự quan tâm và sự gắn kết của tôi đối với giáo dục xuất phát từ những trải nghiệm mà tôi từng có trong Thế chiến II. Bốn anh trai của tôi đã được chọn và gửi ra mặt trận; người lớn nhất đã bị giết trong một trận chiến ở Miến Điện. Trong hai năm sau khi chiến tranh kết thúc, ba anh em còn sống của tôi lần lượt trở về từ Trung Quốc trong nỗi buồn của mẹ tôi cùng nỗi đau của bố khi họ đã có tuổi. Trông họ thực sự thảm hại trong bộ quân phục rách nát.

Cho tới tận bây giờ, tôi vẫn không thể quên sự ghê tởm và tức giận của anh cả tôi đã mô tả sự tàn bạo vô nhân đạo mà anh ta thấy ở quân đội Nhật Bản khi rời khỏi Trung Quốc. Tận sâu trong tôi căm thù chiến tranh sâu sắc, sự tàn nhẫn, ngu ngốc và lãng phí của nó. Năm 1947, tôi gặp được một nhà giáo dục tuyệt vời, Josei Toda. Toda, cùng với người cố vấn của mình, Makiguchi, bị bỏ tù vì phản đối các cuộc chiến tranh xâm lược của Nhật Bản. Makiguchi chết trong tù. Toda thì sống sót sau hai năm khó khăn trong tù.

Khi tôi mười chín tuổi, theo bản năng mách bảo tôi biết rằng đây là một người đáng tin cậy. Tôi quyết tâm xem Toda như người cố vấn trong cuộc sống của tôi.

Đó là lời cầu khẩn thiết từ tận đáy lòng của Toda rằng nhân loại có thể được giải phóng khỏi những chu kỳ chiến tranh khủng khiếp bằng cách thúc đẩy các thế hệ con người mới thấm nhuần sự tôn trọng sâu sắc đối với tôn nghiêm của cuộc sống. Do đó, ông đã dành ưu tiên cao nhất cho giáo dục.

Giáo dục là một đặc quyền của con người. Đó là nguồn cảm hứng cho phép chúng ta trở thành con người thực sự, với sự điềm tĩnh và tự tin để hoàn thành sứ mệnh cuộc đời.

Vũ khí huỷ diệt hàng loạt là mối bận tâm cuối cùng của con người trong sự phát triển kiến thức. Chính kiến thức cũng mang lại sự thoải mái và tiện nghi cho xã hội, mang lại nền công nghiệp và sự giàu có. Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là đảm bảo kiến thức phục vụ cho mục đích lành mạnh và hòa bình của con người. Giáo dục phải là một lực lượng để thúc đẩy để tìm kiếm sự nhân đạo vĩnh viễn. 

Chính vì lý do này mà tôi coi giáo dục là công việc cuối cùng và quan trọng nhất của cuộc đời tôi. Đây cũng là lý do tôi đồng tình sâu sắc với quan điểm của Tổng thống Levine bày tỏ rằng giáo dục có lẽ là cách chậm nhất để thay đổi xã hội.

Xã hội toàn cầu ngày nay phải đối mặt với vô số cuộc khủng hoảng đan xen. Bao gồm các vấn đề chiến tranh, suy thoái môi trường, khoảng cách phát triển Bắc-Nam, sự phân chia sắc tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ. Đây là một danh sách dài và quá quen thuộc, mà con đường để đi đến các giải pháp thì có vẻ quá xa vời và nan giải.

Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, hạnh phúc của nhân loại là gốc rễ của tất cả những vấn đề này, nó dẫn tới sự thất bại tập thể trong việc tập trung và nỗ lực trong các lĩnh vực. Con người là điểm mà chúng ta phải bắt đầu. Những điều cần ở đây chính là một cuộc cách mạng –  cách mạng của nhân loại.

Có nhiều điểm chung trong suy nghĩ của Makiguchi và Dewwy, đây là một trong số đó. Họ đã chia sẻ niềm tin bất di bất dịch trong phương thức giáo dục lấy con người làm trung tâm. Như Dewey nói, ‘“Điều đặc biệt nhất của con người là học tập.” 1.

Dewey và Makiguchi là những người đương thời. Ở hai đầu trái đất, giữa những vấn đề và sự sai lệch của nền công nghiệp hóa xã hội, cả hai phải vật lộn với nhiệm vụ đặt ra   con đường hướng tới một tương lai đầy hy vọng.

Chịu ảnh hưởng rất lớn từ quan điểm của Dewey, Makiguchi khẳng định rằng mục đích giáo dục phải là niềm hạnh phúc cả đời của người học.

Ông tin rằng hạnh phúc thực sự sẽ được tìm thấy trong một cuộc sống có giá trị được tạo ra. Hay nói một cách đơn giản, tạo ra giá trị là khả năng tìm ra ý nghĩa cho cuộc sống, để nâng cao sự tồn tại của chính mình và đóng góp cho hạnh phúc của người khác trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Triết lý sáng tạo giá trị của Makiguchi phát triển từ những hiểu biết sâu sắc về hoạt động bên trong của cuộc sống mà nghiên cứu về Phật giáo dành cho ông.

Cả Dewey và Makiguchi đều nhìn xa hơn giới hạn của quốc gia hay dân tộc và vượt lên tới những chân trời mới của cộng đồng. Có thể nói, cả hai có chung tầm nhìn về công dân toàn cầu, về những người có khả năng tạo ra giá trị trên quy mô toàn cầu. 

Vậy những điều kiện cho công dân toàn cầu là gì?

Tôi đã suy nghĩ về vấn đề này trong nhiều thập kỷ qua, khi có vinh dự được gặp gỡ và trò chuyện với nhiều người từ mọi tầng lớp. Một điều chắc chắn, quyền công dân toàn cầu không chỉ được xác định bởi số lượng ngôn ngữ mà người ta nói hay số quốc gia mà họ đã đi qua. 

Tôi có nhiều người bạn có thể coi là những công dân bình thường, nhưng lại sở hữu sự quý tộc bên trong tâm hồn; những người chưa bao giờ đi xa hơn quê hương của họ nhưng lại quan tâm đến hoà bình và sự phồn thịnh của thế giới. 

Tôi nghĩ rằng tôi có thể tự tin tuyên bố rằng những điều sau đây là những yếu tố thiết yếu của công dân toàn cầu.

  • Trí tuệ để nhận thức được những kết nối trong cuộc sống.
  • Sự can đảm không sợ hãi hay phủ nhận sự khác biệt; nhưng tôn trọng và cố gắng hiểu những người thuộc các nền văn hóa khác nhau, và phát triển từ những cuộc gặp gỡ với họ.
  • Lòng trắc ẩn để duy trì sự đồng cảm trong trí tưởng tượng và mang nó ra ngoài môi trường xung quanh, mở rộng đến những người đau khổ ở những nơi xa xôi.

Tôi nhận thức được sự tương quan trong tất cả những yếu tố cấu thành cốt lõi của thế giới quan trong phật giáo có thể cung cấp cơ sở cho nhận thức về những phẩm chất của trí tuệ, lòng can đảm và lòng trắc ẩn.

Kinh điển từ Phật giáo cung cấp một hình ảnh ẩn dụ đẹp cho sự giao thoa và phụ thuộc lẫn nhau của các hiện tượng. 

Đế Thích – vị thần Phật giáo tượng trưng cho các lực lượng tự nhiên với mạng lưới nhân-đà-la, một mạng lưới khổng lồ. Mạng lưới này được làm thành từ châu báu, trên mạng lưới này, mỗi một nút thắt đều là một viên ngọc sáng. Mỗi một viên ngọc đều phản ánh hình ảnh của tất cả các viên ngọc khác một cách lấp lánh tráng lệ, chúng lần lượt hiện ảnh nhau, lẫn vào trong nhau, trùng trùng vô tận. 

Khi chúng ta học cách nhận ra những gì Thoreau gọi là “phạm vi vô hạn trong những mối quan hệ của chúng ta” 2 chúng ta có thể theo dõi  chuỗi của cuộc sống và hỗ trợ lẫn nhau, khám phá ra những viên ngọc lấp lánh từ những người xung quanh ta. Phật giáo tìm cách trau dồi trí tuệ dựa trên loại cộng hưởng đồng cảm này với các khuôn mẫu sống khác.

Theo quan điểm của Phật giáo, trí tuệ và lòng từ bi được liên kết mật thiết và củng cố lẫn nhau.

Lòng trắc ẩn trong Phật giáo không liên quan đến việc đàn áp những cảm xúc tự nhiên, những điều chúng ta thích và không thích. Thay vào đó, là cách nhận ra rằng ngay cả những người chúng ta không thích cũng có những phẩm chất có thể đóng góp cho cuộc sống của chúng ta và có thể cho chúng ta cơ hội phát triển trong chính nhân loại này.

Hơn nữa, chính mong muốn từ bi tìm cách đóng góp cho hạnh phúc của người khác đã làm nảy sinh trí tuệ vô hạn.

Phật giáo dạy rằng cả thiện và ác đều là những tiềm năng tồn tại trong tất cả mọi người. Lòng trắc ẩn bao gồm nỗ lực bền bỉ và can đảm để tìm kiếm điều tốt đẹp ở bất kỳ người nào, dù họ là ai, dù họ cư xử ra sao. Nó có nghĩa là phấn đấu, thông qua sự tham gia bền vững, để trau dồi những phẩm chất tích cực ở bản thân và ở người khác.

Tuy nhiên, tham gia đòi hỏi sự can đảm. Có quá nhiều trường hợp trong đó lòng trắc ẩn vẫn chỉ là tình cảm, do thiếu can đảm.

Phật giáo gọi một người là hiện thân của những phẩm chất của trí tuệ, lòng can đảm và lòng từ bi, khi người đó phấn đấu không ngừng vì hạnh phúc của người khác, chính là một vị bồ tát.

Theo nghĩa này, có thể nói rằng Bồ tát cung cấp một tiền lệ cổ xưa và hiện đại cho công dân toàn cầu.

Kinh điển Phật giáo cũng bao gồm câu chuyện về một người đương thời của Thích Ca Mâu Ni, một phụ nữ tên là Srimala, người cống hiến hết mình cho giáo dục, dạy cho những người khác rằng thực hiện từ bi bao gồm khuyến khích tiềm năng của tất cả mọi người.

Lời thề của ngài được ghi lại như sau: “Nếu tôi thấy những người cô đơn, những người bị bỏ tù một cách bất công và mất tự do, những người đang bị bệnh tật, thảm họa hoặc nghèo đói, tôi sẽ không từ bỏ họ. Tôi sẽ mang đến cho họ sự an ủi về tinh thần và vật chất.”3.

  • Nói một cách cụ thể, cách ngài làm bao gồm:
  • Khuyến khích người khác thông qua lòng tốt, sự quan tâm và những cuộc đối thoại. (Skt. priyavacana).
  • Bố thí, hoặc cung cấp cho mọi người những thứ họ muốn (Skt. dana).
  • Thay mặt người khác hành động (Skt. artha-carya).
  • Tham gia với những người khác và làm việc cùng với họ (Skt. samanartha).

Thông qua những nỗ lực này, ngài đã tìm cách hiện thực hóa mục tiêu của mình là đưa ra những khía cạnh tích cực của những người mà ngài gặp phải.

Việc làm Bồ tát được dựa trên một niềm tin sâu sắc vào lòng tốt vốn có của con người.

Kiến thức phải được hướng đến nhiệm vụ giải phóng tiềm năng sáng tạo, tích cực. Mục đích này có thể được ví như kỹ năng cho phép người ta sử dụng chính xác các dụng cụ của máy bay để hạ cánh an toàn mà không gặp bất kỳ sự cố.

Vì lý do này, cái nhìn sâu sắc nhận thức về cái ác gây ra sự hủy diệt và chia rẽ trong bản chất con người cũng là một phần vô cùng cần thiết và không kém quan trọng. Việc làm của Bồ tát là một cuộc đối đầu không có hồi kết với những gì Phật giáo gọi là bóng tối cơ bản của cuộc sống. 4

“Lòng tốt” có thể được định nghĩa là điều khiến chúng ta đi theo hướng cùng tồn tại hài hòa, đồng cảm và đoàn kết với người khác. Mặt khác, bản chất của cái ác là phân chia: con người với con người, loài người với phần còn lại của tự nhiên.

Bệnh lý của sự chia rẽ đẩy con người đến một chấp trước vô lý vào sự khác biệt và làm cho chúng ta mù quáng về sự tương đồng của con người. Điều này không chỉ giới hạn ở các cá nhân mà cấu thành tâm lý sâu sắc của chủ nghĩa vị kỷ tập thể, nó có hình thức tàn phá nhất trong các chủng tộc dân tộc và chủ nghĩa dân tộc.

Cuộc đấu tranh để vượt lên trên bản ngã, và sống trong các cảnh giới lớn hơn và đóng góp nhiều hơn cho bản ngã, tạo thành cốt lõi trong việc làm của bồ tát. Giáo dục là, hoặc nên, dựa trên tinh thần vị tha giống như Bồ tát.

Nhiệm vụ đáng tự hào của những người có thể nhận được giáo dục là phục vụ cuộc sống của những người chưa có cơ hội này, theo cách đã thấy và chưa thấy. Đôi khi, giáo dục có thể trở thành vấn đề chức danh hay bằng cấp, địa vị cũng như thẩm quyền. Tuy nhiên, tôi tin rằng giáo dục nên là phương tiện để phát triển tinh thần hỗ trợ người khác trong tính cách của mỗi người. 

Giáo dục nên dựa theo cách này làm động lực để chiến thắng những điểm yếu của chính mình, để phát triển giữa thực tế đôi khi khắc nghiệt của xã hội và tạo ra những thành tựu mới cho tương lai loài người.

Việc bồi dưỡng công dân toàn cầu, đặt nền tảng cho khái niệm và đạo đức của công dân, liên quan đến tất cả chúng ta. Đây là một dự án quan trọng, trong đó tất cả chúng ta đều là người tham gia và đều chia sẻ trách nhiệm. Để có việc này có ý nghĩa, giáo dục cho công dân toàn cầu nên được thực hiện như một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày trong mỗi cộng đồng địa phương của chúng ta.

Giống như Dewey, Makiguchi tập trung bồi dưỡng công dân toàn cầu tại cộng đồng địa phương. Trong tác phẩm năm 1903 của mình, Địa lý của cuộc sống con người (The Geography of Human Life), được coi là một tiên phong trong sinh thái xã hội. Makiguchi nhấn mạnh một khía cạnh quan trọng của học tập là cộng đồng.

Ở nơi khác, Makiguchi đã viết: “Tóm lại, cộng đồng là thế giới thu nhỏ. Nếu chúng ta khuyến khích trẻ em quan sát trực tiếp mối quan hệ phức tạp giữa con người và địa hình, giữa thiên nhiên và xã hội, chúng sẽ nắm bắt được thực tế về ngôi nhà, trường học, thị trấn, làng hoặc thành phố của chúng và sẽ có thể hiểu được thế giới rộng lớn hơn. ”   5.

Điều này phù hợp với quan sát của Dewey cho rằng những người chưa có kinh nghiệm sẽ hiểu sâu hơn về khu phố và hàng xóm của họ và duy trì sự quan tâm đối với người dân ở những vùng đất xa xôi kia. 6.

Cuộc sống hàng ngày của chúng ta chứa đầy cơ hội để phát triển bản thân và những người xung quanh ta. Mỗi tương tác của chúng ta với người khác – đối thoại, trao đổi và tham gia – là một cơ hội vô giá để tạo ra giá trị. Chúng tôi học hỏi từ mọi người và chính vì lý do này mà tính nhân văn của giáo viên đại diện cho cốt lõi của trải nghiệm giáo dục.

Makiguchi cho rằng giáo dục là một kỹ năng siêu việt có thể hướng dẫn quá trình hình thành nhân cách, và có thể nói giáo dục nhân văn là một nghệ thuật bậc nhất.

Kinh nghiệm ban đầu của Makiguchi khi còn là giáo viên ở một trường học nhỏ tại vùng nông thôn xa xôi của Nhật Bản. Những đứa trẻ tội nghiệp cùng cách cư xử mà chúng mang lại từ những cuộc sống nghèo khó.

Tuy nhiên, Makiguchi vẫn khăng khăng: “Tất cả họ đều học sinh như nhau. Từ quan điểm giáo dục, có gì khác biệt giữa họ và những học sinh khác? Mặc dù chúng có thể phủ đầy bụi bẩn, nhưng cuộc chiến rực rỡ cùng cuộc sống vẫn tỏa sáng từ những bộ quần áo này. Tại sao không ai cố gắng để thấy điều này? Giáo viên chính là hàng rào duy nhất, là tất cả những gì đứng giữa chúng và sự phân biệt đối xử tàn nhẫn của xã hội. 7.

Giáo viên là yếu tố quan trọng nhất của môi trường giáo dục. Tín ngưỡng này của Makiguchi chính là tinh thần không thay đổi của nền giáo dục Soka. 

Ở nơi khác, ông viết: “Giáo viên nên bước xuống trên ngai vàng, nơi họ được coi là đối tượng của sự tôn kính để trở thành người giúp đỡ, đưa ra hướng dẫn cho những người đang trên con đường để tìm cách lên ngôi vua học tập. Họ không nên tự xem mình là bậc thầy, thay vào đó, họ nên là những đối tác trong việc phát hiện ra những mô hình mới. 8.

Tôi tin chắc rằng điều làm lên cơ sở một ngôi trường chính việc giáo viên tận tình giúp đỡ học sinh chứ không phải là cơ sở vật chất.

Gần đây tôi đã nghe một nhà giáo dục đưa ra quan điểm này: Cuộc sống của sinh viên không bị thay đổi bởi các bài giảng, mà bởi ảnh hưởng của con người. Vì lý do này, sự tương tác giữa học sinh và giáo viên có tầm quan trọng lớn nhất.

Trong trường hợp của riêng tôi, hầu hết các bài học của tôi đều dưới sự dạy dỗ của người cố vấn của tôi trong cuộc sống, Josei Toda. Trong khoảng mười năm, mỗi ngày trước khi đi làm, anh sẽ dạy tôi một giáo trình về lịch sử, văn học, triết học, kinh tế, khoa học và lý thuyết tổ chức. Vào Chủ nhật, các buổi học một ngày của chúng tôi bắt đầu vào buổi sáng và tiếp tục cả ngày. Anh ta liên tục đặt câu hỏi cho tôi – thẩm vấn có thể là một từ tốt hơn – về việc học của tôi.

Tuy nhiên, trên tất cả, tôi học từ những ví dụ của anh ấy. Cam kết vì hòa bình cháy bỏng vẫn không bị lay chuyển suốt thời gian anh bị giam cầm cũng là điều anh mang theo suốt đời. Chính điều này và lòng trắc ẩn của anh ấy mà tôi đã học được rất nhiều. Chín mươi tám phần trăm những gì tôi có ngày hôm nay, là những gì tôi học được từ anh ấy. 

Hệ thống giáo dục Soka, hay tạo ra giá trị, được thành lập dựa trên mong muốn rằng các thế hệ tương lai sẽ có cơ hội trải nghiệm loại hình giáo dục nhân văn này. Hy vọng lớn nhất của tôi là các sinh viên tốt nghiệp của các trường Soka sẽ trở thành công dân toàn cầu, người có thể tạo ra một lịch sử mới cho loài người.

Hành động của những công dân toàn cầu như vậy sẽ không hiệu quả trừ khi được phối hợp và về vấn đề này, chúng ta không thể bỏ qua tiềm năng quan trọng của hệ thống Liên Hợp Quốc (United Nations).

Chúng tôi đã đạt đến giai đoạn mà Liên Hợp Quốc có thể phục vụ như một trung tâm, không chỉ để “hài hòa hóa các hành động của các quốc gia”, 9 mà còn để tạo ra giá trị thông qua giáo dục công dân toàn cầu, những người có thể tạo ra một thế giới hòa bình. Trong khi các quốc gia và lợi ích quốc gia đã chi phối cuộc tranh luận tại tổ chức thế giới cho đến nay, ngày càng nhiều, năng lượng của “Chúng tôi là những con người…” Đã tự in dấu, đặc biệt thông qua các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (NGO).

Trong những năm gần đây, các cuộc thảo luận toàn cầu về các vấn đề quan trọng như môi trường, nhân quyền, người bản địa, phụ nữ và dân số đã được tổ chức dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc. Với sự tham gia của cả đại diện chính phủ và phi chính phủ, các hội nghị về các vấn đề thế giới đã đẩy mạnh quá trình hình thành loại đạo đức toàn cầu phải trải qua quyền công dân toàn cầu.

Phối hợp với những nỗ lực không ngừng của Liên Hợp Quốc theo hướng này, tôi hy vọng sẽ thấy những vấn đề này được kết hợp như là yếu tố không thể thiếu của giáo dục ở tất cả các cấp. Ví dụ:

  • Giáo dục hòa bình, trong đó những người trẻ tuổi học được sự tàn khốc và điên rồ của chiến tranh, để bắt nguồn từ thực tiễn bất bạo động trong xã hội loài người.
  • Giáo dục môi trường, nghiên cứu thực tế sinh thái hiện tại và phương án bảo vệ môi trường.
  • Giáo dục phát triển, tập trung chú ý vào các vấn đề nghèo đói và công lý toàn cầu.
  • Giáo dục nhân quyền, thức tỉnh nhận thức về bình đẳng và nhân phẩm của con người.

Từ lâu, tôi tin rằng giáo dục không bao giờ phụ thuộc vào lợi ích chính trị. Cuối cùng, tôi cảm thấy rằng giáo dục nên được coi là một vị thế trong các vấn đề công cộng tương đương với các ngành lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp của chính phủ. Đề xuất này phát triển từ kinh nghiệm của những người tiền nhiệm của tôi, chủ tịch thứ nhất và thứ hai của Soka Gakkai, người đã chiến đấu kiên định chống lại sự kiểm soát chính trị của giáo dục.

Trong những năm tới, tôi hy vọng rằng chúng ta có thể thấy việc thực hiện một hội nghị thượng đỉnh thế giới, không phải của các chính trị gia, mà là của các nhà giáo dục. Điều này là do không có gì có tầm quan trọng lớn hơn đối với tương lai của con người hơn là sự đoàn kết xuyên quốc gia của các nhà giáo dục.

Để đạt được điều đó, chúng tôi quyết tâm tiếp tục nỗ lực thúc đẩy trao đổi giáo dục trong giới trẻ, theo gương của Đại học Sư phạm, mà tôi hiểu hiện tại có một hội sinh viên được rút ra từ tám mươi quốc gia.

Như Makiguchi đã nói, “Những nỗ lực giáo dục được xây dựng dựa trên sự hiểu biết rõ ràng, với ý thức xác định mục đích có sức mạnh để vượt qua những mâu thuẫn và nghi ngờ gây ra cho loài người, và mang lại một chiến thắng vĩnh cửu cho nhân loại.”   10 .

Tôi, cùng với những người bạn và đồng nghiệp nổi tiếng của tôi đã tập trung ở đây hôm nay, cam kết nỗ lực hết mình để làm việc để thúc đẩy những công dân toàn cầu, những người mà có thể tạo ra “chiến thắng vĩnh cửu của nhân loại”.

Tài liệu tham khảo

1 John Dewey, “Tìm kiếm cộng đồng lớn”   Công chúng và các vấn đề của nó: Một tiểu luận về vấn đề chính trị   (Chicago: Cổng sách, 1946), 154.

2 Henry David Thoreau, “Ngôi làng” trong   Walden, Các tác phẩm được lựa chọn của Thoreau,   chủ biên Walter Harding, Cambridge biên soạn. (Boston: Công ty Houghton Mifflin, 1975), 359.

3 Xem Alex Wayman và Hideko Wayman, dịch   The Lion’s Roar of Queen Srimala: Kinh điển Phật giáo về thuyết Như Lai-garbha   (New York: Nhà xuất bản Đại học Columbia, 1974), 65.

5 Nichiren, “Mở mắt”   Các tác phẩm được chọn của Nichiren,   xuyên. Burton Watson và cộng sự, chủ biên. Philip B. Yampolsky (New York: Nhà xuất bản Đại học Columbia, 1990), 50.

5   Một tuyển tập các tác phẩm của Tsunesaburo Makiguchi   (bằng tiếng Nhật), ed. Takehisa Tsuji (Tokyo: Daisan Bunmeisha, 1994), 40.

6 John Dewey, “Vấn đề của phương pháp”   Công chúng và các vấn đề của nó,   213.

7Sưu tầm tác phẩm của Tsunesaburo Makiguchi   (bằng tiếng Nhật) (Tokyo: Daisan Bunmeisha, 1982), 7: 183.

8Sưu tầm tác phẩm của Makiguchi   (1983), 6: 289.

9 Hiến chương Liên Hợp Quốc, Điều 1.

10Sưu tầm tác phẩm của Makiguchi   (1984), 8: 365.

Nguồn: https://www.daisakuikeda.org/sub/resources/works/lect/lect-08.html

Nguồn: openedu

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here