Sách “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ”

0
36

LIỆU CHIẾN THẮNG CÓ ĐỒNG NGHĨA VỚI HÒA BÌNH?

Svetlana Alexievich (31/5/1948) là một nhà báo điều tra và nhà văn theo trường phái hiện thực. Bà là người Belarus nhưng viết báo viết văn bằng tiếng Nga. Năm 2015, bà được trao giải Nobel Văn học vì văn của bà tạo nên “tượng đài tưởng niệm sự thống khổ và lòng dũng cảm trong thời đại của chúng ta”. [1]

“Chiến tranh không có gương mặt phụ nữ” là tác phẩm mà bà đã làm điều đó rất tốt. Tác giả kể về lý do viết nên tác phẩm này: “Hẳn không thể biết trên thế giới đã có bao nhiêu sách viết về chiến tranh. Gần đây tôi đã đọc ở đâu đó rằng Trái Đất đã biết đến 3000 cuộc chiến tranh. Mà sách viết về chúng còn nhiều hơn… Tuy nhiên, tất cả những gì chúng ta biết về chiến tranh là do những người đàn ông kể cho chúng ta.” Bởi vậy, bà viết một cuốn sách về chiến tranh qua góc nhìn của phụ nữ một cách chân thật nhất và đầy xúc cảm. “Phải viết một cuốn sách về chiến tranh sao cho người đọc đến buồn nôn sâu sắc vì nó, cho họ thấy chỉ ý tưởng về chiến tranh thôi đã là bỉ ổi. Tâm thần.”.Trong suốt hai mươi lăm năm, bà đã đi qua hơn 100 thành phố, thị trấn và làng mạc của Nga, phỏng vấn, trò chuyện với hàng ngàn phụ nữ từng tham gia chiến tranh thời Liên Xô cũ. Tác phẩm với những cảm xúc và sự thật trần trụi đã bóc trần đến tận cùng cái ghê tởm của chiến tranh. Ghê tởm từ chính những tư tưởng nảy sinh ra nó. “Ở đấy, ta không thấy anh hùng cũng chẳng thấy chiến công không tưởng tượng nổi, mà chỉ đơn giản có những cá nhân bị cuốn vào một công việc phi nhân của nhân loại. Và trong ấy, không chỉ có họ (con người!) phải chịu đau đớn vì chiến tranh: cùng với con người là đất đai, chim chóc, cây cỏ. Toàn bộ thiên nhiên. Chúng chịu đau đớn mà chẳng nói được một lời, thế càng kinh khủng hơn… Thậm chí một sai lầm lớn. Còn có một cuộc chiến tranh khác mà chúng ta không biết.”

“Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ” không chỉ tái hiện Thế chiến, mà đằng sau nó còn một cuộc chiến khác, dai dẳng và âm ỉ. Những người phụ nữ bước ra từ chiến tranh chịu đựng sự hành hạ từ những vết thương thể xác và ám thị tinh thần, những chấn động tâm lý không thể xóa mờ. Ước mơ, khao khát lẫn nhục cảm đã chết trong một số người, một số khác ao ước có thể yêu trở lại nhưng đã quên cách chấp nhận sự dịu dàng của nam giới. Tổ quốc – đức tin từng vô cùng mãnh liệt, sự che chở bất vụ lợi lẫn nhau nơi chiến trường không còn nữa, con người phải một mình đối chọi với cuộc đời thực tại, vật lộn để sống sau thời hậu chiến. Cuộc sống đối với họ vĩnh viễn không còn bình thường nữa. Những ký ức chất chồng kể về hàng trăm ngàn cuộc chiến riêng biệt mà mỗi nhân vật đã từng trải qua. Không có tiếng nói nào vô chủ. Tác giả đã ghi lại cẩn thận mọi cái tên và mọi nhận dạng, bởi bà trân trọng “quyền được nói” của tất cả phụ nữ, bà lắng nghe họ với một trái tim nhân ái của kẻ đồng loại và sự đồng cảm của thế hệ sau. Bà giúp họ mở lời sau hàng thập kỷ im lặng nghẹn ngào.

Trong chiến tranh, không chỉ là thế giới nội tâm người phụ nữ, thế giới được kiến tạo bởi cái nhìn của phụ nữ cũng đầy ắp những bi kịch điên loạn, những vùng tối đau thương chẳng dễ gì để nhắc lại và cũng chẳng dễ gì để chôn vùi vào quên lãng. Biến cố khủng khiếp của thời đại hằn sâu trong ký ức của những cô gái trẻ tuổi bằng trận địa ngập xác chết lẫn lộn với thương binh nặng, bầu trời, mặt đất, khu rừng và đầm lầy biến thành màu của máu, thứ màu đỏ tanh tanh nhờ nhợ, một đứa trẻ sơ sinh bị tên phát xít giật ra khỏi vòng tay mẹ và quật vỡ sọ, một nữ liên lạc bị kẻ thù treo lên thẩm vấn trong tình trạng trần truồng…Những khung hình ấy chen nhau xuất hiện trong lời kể của các nhân vật tác giả đã gặp gỡ và trò chuyện, tưởng như một tiếng bom của thế kỷ XX vừa dội thẳng vào các giác quan của độc giả. Hình ảnh chiến tranh còn được lộ rõ qua cái nhìn bản năng nguyên thủy của nữ giới, đầy dịu dàng, đa cảm, trìu mến và âu yếm. Họ ôm trong vòng tay và nói lời ngọt ngào với những thương binh đang vật lộn giữa lằn ranh của sự sống và cái chết, một nỗi mất mát vô biên không thể lấp đầy xâm chiếm lấy họ khi nhìn con người chết đi.

Có thể thấy, có một mối liên kết bền chặt kỳ lạ giữa phụ nữ trong chiến tranh: Các nữ binh, những người mẹ khóc thương con trai, những phụ nữ tiễn chồng và người yêu ra trận. Họ nắm tay nhau, để sau tất cả, họ luôn luôn mạnh mẽ nhất và giỏi chịu đựng nhất. Nếu không mạnh mẽ, làm sao trái tim họ còn ấm nóng ở trong lồng ngực để nhìn thấy mặt trời chói sáng, làm nở rộ những bông hoa chuông trên bãi cỏ, cánh đồng màu mỡ sau mùa thu hoạch, khu rừng lấp lánh trong sương sớm. Phụ nữ luôn kín đáo gìn giữ bản sắc của giới tính họ trong sâu thẳm tâm hồn. Ở đó không ai có thể xâm phạm niềm khao khát một chiếc áo dài, một đôi ủng vừa chân, đuôi tóc tết, mùi của gia đình. Sự hoài thai và sinh nở cũng là một điều kỳ diệu, người ta có thể mang trong mình cùng lúc một sinh linh bé nhỏ đang lớn dần lên và một quả lựu đạn ở ngay chỗ một sinh linh đang thành hình linh hồn đang đập thành nhịp. Địa hạt của Sự sống lặng lẽ vượt qua

bóng đêm và cái chết, kết tụ thành hơi thở và hình hài bé mọn cùng một niềm hy vọng lớn lao. Cũng chính nhờ tư tưởng ấy mà cuốn sách của nữ nhà báo người Belarus tràn ngập thiện tính, nhân tính và mỹ tính bất diệt, bên cạnh tư tưởng phản chiến đậm nét.

Hóa ra, chiến tranh chẳng phải thứ gì đó vĩ đại hay vĩ cuồng như ta từng tưởng, nó đơn giản là một sự hi sinh vô điều kiện cho Tổ quốc của mình, nhưng đằng sau đó là những ám ảnh – mỗi ngày đều phải chứng kiến người ta chết trước mắt mình, đó là những nỗi đau tinh thần – mỗi khi nhận tin báo rằng quân địch đã bắt giam người thân của mình, rằng mẹ cha mình đã không còn, chồng con mình cũng không còn, đó là những nỗi đau thể xác – những cô gái ba năm trời không có kinh nguyệt…. Chiến tranh hóa ra chẳng phải vì lý tưởng gì, chẳng có gì chính nghĩa nằm trong các cuộc chiến, mà nó đơn giản đều là sự vị kỉ và những toan tính quyền lực đã đẩy những con người vô tội, bình thường trở thành kẻ giết chóc, khiến nhân dân lầm than. Nhưng chính những con người tốt đẹp và hòa bình dường ấy lại trở thành những con thú hoang tàn và hung ác trong chiến tranh. Chiến tranh xẻ nát không chỉ thân thể mà còn là trái tim, là tâm hồn. Trong mắt những người lính Xô Viết, những tên phát xít Đức không còn là con người mà là súc vật, một thứ giống loài hạ đẳng đã dám đến đánh chiếm đất đai của họ, giết chết gia đình, đốt phá xóm làng, quê hương họ, nên họ chiến đấu dù đến hơi thở cuối cùng. Nhưng đâu đó trong chính những người lính Xô Viết, dường như cái bản năng khác phần người của họ cũng đã từ từ trỗi dậy khi họ ra tay giết chóc những người khác – cho dù đó là kẻ thù của mình. Trong chiến tranh, ranh giữa giữa thiện – ác bị xóa nhòa.

Alexievich đã kết tội chiến tranh bằng câu chuyện của các nhân chứng sống cùng chuỗi những tổn thương sâu sắc, những ẩn ức, ám ảnh triền miên. Quan trọng hơn, tác phẩm đã kêu gọi loài người cùng đứng lên để chống lại mọi cuộc chiến có thể xảy ra trong tương lai, bởi không thể để những trang sử đen tối lặp lại với hàng triệu người bị tước quyền sống yên ổn. Ngoài “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ”, Svetlana Alexievich còn viết nhiều sách về đề tài chiến tranh như “Những nhân chứng cuối cùng” (1985), “Quan tài kẽm” (1989), “Tiếng vọng từ Chernobyl (1997)”…Đối với bà, chiến tranh dù nhìn ở góc độ nào, luôn là một điều phi nghĩa.

Chú thích/ Tài liệu tham khảo:

[1] Bên cạnh Nobel Văn chương, Svetlana Alexievich nhận nhiều giải thưởng khác như giải Leninsky Komsomol ở Nga, PEN Award, Peace Prize of the German Book Trade, Giải Médicis Essai (Pháp), giải National Book Critics Circle (Mỹ)

Nguồn: openedu

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here