SÁCH “GIA ĐÌNH BÉ MỌN”

0
38

Dạ Ngân là một cái tên đặc sắc trong giới văn chương sau 1975, thành công đến với bà muộn màng cũng như hạnh phúc, nhưng khi đã đến thì tất thảy đều nở hoa để không bõ công bà đứng vững giữa đời suốt những năm tháng thanh xuân. Bên cạnh những tác phẩm nổi tiếng như “Người yêu dấu và những truyện khác” (2017), “Con chó và vụ ly hôn” (1989), “Cõi nhà” (1993),… thì “Gia đình bé mọn” (2005) là một đứa con lớn của Dạ Ngân hay của xã hội nói chung, không chỉ là áng văn hay của Việt Nam mà còn vươn xa thế giới khi được dịch ra hai thứ tiếng Anh và Pháp. Vậy điều gì đã khiến “Gia đình bé mọn” trở nên đặc biệt như vậy? 

 

Đằng sau chuyện gia đình là bức tranh xã hội  

 

Nếu không hấp dẫn, không xô đẩy, không vừa khái quát vừa cụ thể nên một bức tranh xã hội, người ta sẽ không thể gọi đó là tiểu thuyết. Và tính tiểu thuyết đầu tiên được Dạ Ngân gửi gắm ở chính tên tác phẩm: Gia đình bé mọn. Dù cũng là tiểu thuyết thời hậu chiến, nói lên những mất mát và tàn tật của chiến tranh, nhưng “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh lại được khoác lên mình một cái tên thật lớn, còn Dạ Ngân lại chọn cho tiểu thuyết của mình một bề ngoài nhỏ bé. Gia đình vốn là một tế bào thật nhỏ của xã hội, mà đã vậy còn “bé mọn”, như thể một câu chuyện đặc quánh kể về hạt cát giữa biển khơi. Một cái tên tương phản đầy ấn tượng với chiều sâu nội dung tác phẩm và với cái thống khổ to lớn mà chiến tranh qua đi đã “vô tình” để quên lại trong lòng người.  

Nhưng tương phản như vậy mới thấy cay thấy xót cho thân phận con người lọt thỏm giữa những tháng ngày hậu chiến. Những tưởng chiến tranh qua đi sẽ là những ngày vinh quang sung sướng, tắm mình trong độc lập và tự do. Nhưng qua câu chuyện xoay quanh ba “gia đình bé mọn” của nhân vật Tiệp, Dạ Ngân đã chẳng ngại ngần phóng bút tái hiện một xã hội thời bao cấp chân thực những nhiễu nhương và tha hóa. Thân phận người phụ nữ “tam tòng tứ đức” trong gia đình số một của Tiệp vừa bi vừa hùng, như một khúc tráng ca đầy nước mắt chảy ngược vào trong của những người đàn bà “nhờ” chiến tranh mà trở nên góa bụa. Tiệp rùng mình, thoát chạy khỏi khúc tráng ca ấy để tìm hạnh phúc cho riêng mình. “Tự do” vừa là phần quà, vừa là lời nguyền của tạo hóa cho con người. Vì thế, để được tự do thì không chỉ gồng mình chống lại xã hội, Tiệp phải chống lại cả những người thân thương nhất, người mẹ, người cô, người chị. Những người vì quá thương mà không thể giận, nhưng không thể cứ bế tắc mắc kẹt chẳng lối ra. Chiến tranh đã cướp đi của họ hạnh phúc giản đơn, còn xã hội hà khắc đã cướp đi ở họ quyền mưu cầu hạnh phúc. Gia đình thứ hai của Tiệp lại nói về chuyện tính người, cũng là gia đình trung tâm trong câu chuyện. Rùng mình khi thấy Tiệp tê liệt trước mối tình bản năng trong chiến tranh. Nhưng càng về sau, mối quan hệ giữa Tiệp và Tuyên càng như hai đường thẳng song song mà càng cố gắng lại gần nhau càng đau khổ như phải bẻ cong oằn mình chịu trận. Nhân tính như đã bị nổ tung trong bom rơi đạn lạc, làm xã hội đầy rẫy nhưng người “cán bộ” phi nhân tính, chỉ còn tình dục chứ chẳng thấy tình yêu. Chính những miêu tả táo bạo đầy run rẩy và ghê tởm mà Dạ Ngân dành cho câu chuyện của Tiệp và Tuyên khi kể về tình dục chỉ để làm vui lòng những người thân thương là phép tương phản đến đau đớn, khắc khoải trong lòng người đọc một nỗi ám ảnh về thân phận con người trong xã hội hậu chiến. Gia đình thứ hai cũng xoay quanh người mẹ Mỹ Tiệp dằn vặt cả đời vì chẳng thể hoàn thành thiên chức người mẹ với những đứa con mình, để mỗi khổ đau và thiệt thòi của con là một cú nấc nghẹn như là do Tiệp mà ra. Giằng xé giữa bản thân, giữa tình thân, giữa thiên chức tưởng đã xé toang người đàn bà hậu chiến, nhưng không. Tình yêu chính là mạch nước ngầm chảy xuyên suốt câu chuyện, đưa người đọc đến gia đình thứ ba của Tiệp. Nơi Tiệp tìm được tình yêu đích thực nhưng hơi thở chiến tranh vẫn cứ nhọc nhằn trêu người người phụ nữ. Đính là người đàn ông mà Tiệp nguyện yêu suốt cuộc đời, nhưng tình yêu trong thời hậu chiến trở nên điều khó hiểu trong mắt người đương thời khiến Tiệp và Đính trải qua nhiều thử thách mới được ở cạnh nhau. Nhưng chỉ ở gia đình thứ ba này, ta mới thấy quả ngọt cho thân phận người đàn bà. Rốt cuộc thì đời người đa đoan cần gì hơn một bóng hình tri kỷ? Và rốt cuộc thì ẩn náu trong những gia đình bé, trong những thân phận mọn lại chính là tiếng rên nặng nề của một xã hội bị tổn thương quá nhiều sau bom đạn chiến tranh mà tâm lý trở nên rỉ máu, đau đớn dai dẳng. Nhưng chẳng biết mình bị thương. 

 

Than khóc về chiến tranh không khiến người ta hiểu về chiến tranh 

 

Một nhà văn từng nói rằng, người nói về chiến lược chiến tranh hầu như không tham chiến. Quả vậy, người tham chiến dù là tiền chiến, trong cuộc chiến hay hậu chiến thì dường như chẳng muốn nói về chiến tranh. Tắm mình trong biển khổ chiến tranh thì những thứ ganh đua, thắng thua kia trở nên vô nghĩa. Duy chỉ có con người là sừng sững trước mắt. Con người sống, con người chết, tất thảy đều thương tật và khổ đau. Nếu chiến tranh không giết chết được phận người, thì họ sẽ chẳng than khóc mà thay vào đó, ngẩng mặt trừng mắt nhìn vào sự vô nghĩa của nó. Hậu chiến là một vũng lầy. Có người chìm trong đó, có người vẫy vùng, còn có người vững lòng mà thoát được. Chính những người vững lòng mới tạo nên gam màu sáng tương phản với cái vệt màu đỏ bầm tăm tối mà chiến tranh để lại. Rồi người ta hiểu hơn về chiến tranh, nó vừa vô nghĩa vì giết người, và vừa vô nghĩa vì chẳng thể giết được người. Khác với cầu vồng sau mưa, chiến tranh qua đi không mang lại hòa bình. Vì cơn mưa thì tắm mát, còn chiến tranh rỗng tuếch và vô nghĩa. Làm sao có thể khóc than về một điều mà bản thân nó chẳng là điều gì cả? Chỉ có thông qua con người mới thấy rõ bản chất của chiến tranh, kể chuyện con người là để kể chuyện chiến tranh, và chỉ có con người mới có thể chấm dứt chiến tranh. Chuyện người phụ nữ đa đoan, chuyện người góa phụ, chuyện cán bộ, chuyện nhà văn, chuyện đứa trẻ,… là chuyện của chiến tranh. Và chuyện của họ sẽ chấm dứt cuộc chiến trong lòng người. 

 

Mượn thân phận người phụ nữ nói chuyện nhân quyền 

 

Xoay quanh cuộc đời của người phụ nữ, nhưng ngòi bút Dạ Ngân đã chạm đến câu chuyện nhân quyền. Tiệp không chỉ là phụ nữ, một người mẹ, một người vợ, một người con, mà còn là một con người. Vì thế, Tiệp đứng lên chiến đấu giành lấy quyền tự do được sống, được yêu, được hạnh phúc như một con người. Người mẹ không thể buông tay con, người vợ không thể bỏ chồng, người con không thể chống đối lại gia đình, người phụ nữ không thể có tiếng nói trong xã hội bán phong kiến, nhưng một con người thì có thể làm tất cả những điều trên vì hạnh phúc của chính mình. Một tiểu thuyết về chủ nghĩa cá nhân được ra đời trong thời bao cấp rõ là một lời thách thức ngông cuồng đặt ra trước xã hội, và dĩ nhiên dễ khiến người ta tranh cãi, hoặc phũ nhận. Nhưng “Gia đình bé mọn” lại khác. Phải chăng vì giọng văn Dạ Ngân mềm mại mà đầy nội lực, như làn nước mát khiến người ta thấy dễ chịu rồi được chữa lành. “Gia đình bé mọn” không chua chát, không lý tưởng, không “bề trên” mà dễ dàng chạm được lòng người vì những đồng cảm, những lay động, những giằng xé nội tâm khiến Tiệp vừa là một người hùng mà cũng là một người thường như bao người khác. Ngòi bút Dạ Ngân gọi dậy một con người khác ngủ quên bên trong nhiều thân phận hậu chiến. Một con người đầy mâu thuẫn, khổ đau nhưng cũng đầy khao khát, không phớt lờ bản tính người của mình, không phớt lờ cái chân – thiện – mỹ, không phớt lờ hạnh phúc. Một con người tuy nhỏ bé nhưng sẵn sàng cất lên hai tiếng “tự do” nếu được trao cho niềm tin tự do là có thật, và niềm tin rằng con người thật sự có quyền được tự do. 

 

Tưởng tự truyện mà là truyện tự tưởng 

 

Văn chương luôn là một nỗ lực cụ thể hóa cuộc sống bằng những phép ẩn dụ, tu từ,… và mang cái đẹp đến tắm tưới tâm hồn người thay vì nỗ lực trừu tượng hóa một vấn đề. Những người biết nhà văn Dạ Ngân khi đọc “Gia đình bé mọn” không tránh khỏi việc liên tưởng đến cuộc đời bà, nhưng họ đều phải thừa nhận thật thiển cận khi làm như vậy. Vì cuộc đời mỗi người dù có thăng trầm đến đâu cũng không thể sao chép y nguyên vào trang truyện, mà chỉ nên là chất liệu nền. “Gia đình bé mọn” đạt được thành công nhờ những gam màu được Dạ Ngân thêm vào từ tâm hồn mình để mảnh đất trong tiểu thuyết vừa sống động lại vừa phi thực, thật đáng để đặt chân vào đó, khác hẳn sự lạt nhạt của cuộc sống đời thường. Bao nhiêu cái đẹp qua mắt nhìn của Dạ Ngân được thả vào tác phẩm, được cụ thể bằng những điều gần gũi biết bao nhiêu để giúp người đọc dễ hình dung và thấm thía cái thẩm mỹ của cuộc đời trong con mắt nghệ thuật. Sông Hậu, miền Tây, những món ăn quê, hay Hà Nội, rồi tình mẫu tử, tình đồng bào, tình yêu trai gái, tri kỷ, gia đình nhỏ, những đứa trẻ,… những gì dung dị nhất tất cả đều được tả thực trong chiều sâu và đẹp của trí tưởng tượng người nghệ sĩ. Nếu không có chất thơ, nếu không có tâm hồn đẹp, chắc chắn từng con chữ trong truyện sẽ khô không khốc trong khói lửa chiến tranh và cái lạnh tanh của tình người. Và cuộc đời cũng vậy, cần những áng văn trong trẻo như sương sớm hay dữ dội một cơn mưa tháng sáu để tưới mát lòng người, để cứu rỗi con người khỏi nạn vô cảm. 

 

“Gia đình bé mọn” với nội lực của phận người không đầu hàng sẽ là một áng văn bất tử, một lời ủi an của người tri kỷ Dạ Ngân cho nhiều thế hệ, chứ không chỉ riêng thời hậu chiến. Vì hỡi ôi, cuộc chiến trong lòng dân tộc bị đô hộ ngàn năm đến bao giờ mới hết, và cái tự do của con người bao giờ mới được chữa khỏi những tổn thương và sợ hãi? 

 

Nguồn ảnh: www.goodread.com

 

Nguồn: openedu

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here