Sơ lược ngành hospitality ở Việt Nam – Bài 9: Sự xuất hiện của Karaoke

0
46

Trào lưu kinh doanh nhà hàng karaoke có thể nói bắt nguồn từ năm 1994 bởi những tập đoàn cũng hàng Top về kinh doanh Nhà hàng, Khách sạn, Casino ủa Hồng Kong. Lợi nhuận của loại hình kinh doanh giải trí kết hợp FNB này khiến các nhà đầu tư Việt Nam lao vào, để rồi thập kỷ sau (2000-2010) khắp Saigon xuất hiện rất nhiều cái tên làm mưa làm gió trong lĩnh vực giải trí này.

Lùi lại khoảng thời gian 6 năm trước 2000.

Từ những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước, có một thứ giải trí được xếp vào hàng xa xỉ, đó là KaraOke, bởi Quán karaoke đầu tiên trên thế giới được xuất hiện vào nǎm 1984 tại một cánh đồng lúc ở vùng quê Okayama, phía tây của vùng Kobe, Nhật bản. Thì lấy đâu ra ở Việt nam thời đó có để mà phổ biến!

Năm 1994, khi tôi làm việc tại một cái Nhà hàng thuộc hàng top đỉnh ở Saigon, có cái tên dài ngoằn: Foods Center of Saigon, địa chỉ nó nằm ở 393 B Trần Hưng Đạo, Quận 1 ( đối diện Sở cứu hỏa). Đó là một tòa nhà với kết cấu 1 hầm + 6 tầng lầu, được ốp đá Granite đen bóng, nên dân tình quen gọi với cái tên ” Nhà hàng đen”. Nó được xây dựng bởi liên doanh ban đầu là 1 tập đoàn cũng hàng Top về kinh doanh Nhà hàng, Khách sạn, Casino… của Tỉ phú người Hongkong Lui Lik Chee ( con trai ông là Lui Kwong Wah làm đại diện) liên doanh với Cty 990 thuộc CA Tp HCM thời đó, sau này thêm 1 cổ đông lớn nữa tham gia vào khai thác đó là Việt Hoa Ngân hàng.

Nói thêm đôi chút về cái nhà hàng này, nó là nơi qui tụ của các nhà đầu tư cỡ bự khắp Châu Á đến tìm kiếm cơ hội đầu tư vào Việt nam, đặc biệt là các Quốc gia có gốc Trung như Đài loan, Hongkong, Singapore và Nhật bản, bởi đây là nhà hàng đầu tiên phục vụ dòng sản phẩm Chinese Cuisines chuẩn Fine Dining của Hongkong với 3 tầng, sức chứa trên 1000 khách, 2 tầng tiếp theo với 36 phòng KaraOke chuẩn cao cấp nhất thời bấy giờ và 1 cái Discotheque tầng 6 cũng hàng top luôn.

Nói về Karaoke, tôi không nhớ rõ thương hiệu nào có mặt đầu tiên ở Saigon, nhưng với 36 cái phòng KaraOke này tôi dám khẳng định với các bạn, nó là đỉnh nhất ở Saigon thời đó. Được thiết kế cách âm tuyệt hảo, hệ thống âm thanh nhập khẩu nguyên bộ từ Nhật, đặc biệt là hệ thống amply và đầu đĩa than với ổ đĩa 32cm của Sony, để vận hành nó là một đội ngũ nhân viên đồ sộ.

Này nha – với 3 “Má mì” cai quản trên 200 cô Customer Care mà người vẫn quen gọi bằng cái danh từ bình dân là ” đào” với độ tuổi không vượt quá… 24 tuổi, độ xinh đẹp thì phải thuộc hàng sắc nước hương trời, được tuyển chọn gắt gao qua 3 vòng phỏng vấn. Khi vào làm việc thì được huấn luyện nghiệp vụ lẫn kỹ năng Customer Care bài bản, với một cái bảng Basic Rules dài dằng dặc, thêm khoản tiền thế chân để lỡ mà vi phạm Policy sẽ bị trừ thẳng tay…thì đủ hiểu cái chuẩn ở đây như thế nào. Lưu ý rằng qui định thời đó, Customer Care phải mặc “Sườn xám”, xẻ 1 đường dài để lộ 1 bên đùi, nhưng cổ áo phải kín, tội nghiệp nhất là mấy ông khách hám của lạ: chỉ được nhìn, cấm được sờ ( ức chế vãi) chứ không được phép âu ơ ví đầu, lạng quạng là… lên phường😂.

Riêng đội ngũ vận hành thì cũng đồ sộ không kém, tuy nhiên tôi xin lướt qua, chỉ tập trung nói về 1 bộ phận thôi, để các bạn thấy về qui mô lẫn điểm khác nhau của các mô hình KaraOke hiện đại sau này.

Để vận hành 36 phòng KaraOke, một bộ phận có tên là ” Phòng Máy” với cơ cấu gồm 5 người: Trưởng bộ phận, Kỹ thuật điện tử Âm thanh và 3 nhân sự ” thả đĩa”, mà Karaoke có hoạt động thông suốt hay không, quan trọng nhất lại thuộc về 3 con người này, tiêu chí tuyển chọn họ là…giỏi ngoại ngữ và là ” gốc Hoa”.
Vì sao? Này nha – với trên 70% khách hàng nói tiếng “Trung Quan thoại” và 20% là khách Nhật, 10% khách châu âu, mà không có khả năng ” Nghe – nói – đọc – viết” tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Anh thì làm sao mà chọn bài cho khách hát!!!

Các bạn trẻ sinh ra ở giữa thập niên 80 trở về sau, chắc ít ai biết điều này. Đó là, ở thời đó hoàn toàn không có các đầu Karaoke 4,5 số, càng không hề có đầu Acnos, Hanet như bây giờ. Thời đó để vận hành Karaoke, phải theo 1 qui trình khép kín như sau:

Sau khi khách đã an tọa, chọn cho mình 1 hoặc nhiều hơn nhân viên Customer Care, order xong đồ ăn ( trái cây, snack) thức uống ( chủ yếu là rượu mạnh, phổ biến vẫn cứ là Brandy và Whisky) là bắt đầu qui trình “Songs Order”. Đầu tiên, các các cô ” đào” sẽ lấy List Songs cho từng khách chọn bài, sau đó ghi ra giấy ( thường thì 1 khách chọn trước 2 bài) ai ko biết hoặc thích hát thì các cô ” Đào” sẽ phải tự chọn để hát, nếu gặp cảnh xui là hát dở hoặc không biết hát thì coi như mất tiền “Bo”, nên cô nào muốn kiếm nhiều tiền thì phải… luyện thanh😂. Sau khi chọn bài xong sẽ đưa phục vụ ghi số phòng, số khách rồi chuyển cho Phòng máy, lúc này nhân viên phòng máy sẽ tìm ra đĩa nhạc có bài hát yêu cầu và đưa vào máy. Bạn có thể hình dung rằng 1 phòng order chừng 20 bài nhạc, mà các bài nhạc đó lại không cùng 1 đĩa, thì có nghĩa là nhân viên phòng máy phải tìm và xếp sẵn 20 cái đĩa than với đường kính 32cm, mà full 36 phòng thì khối lượng công việc của họ cỡ nào? Chưa kể để phục vụ cho 1 phòng, tối thiểu phải có 2 dàn máy, nhân viên trực phải luôn dán mắt lên theo dõi 72 cái máy đó để biết khi bài này vừa kết thúc, là cái máy kia phải lên nhạc cho khách hát ngay, rồi lại thay đĩa mới vào cái máy vừa kết thúc nhạc…

Thời vàng son ngắn ngủi của “Nhà Hàng Đen” kết thúc vào năm 1998 bởi sự xung đột lợi ích của các nhóm cổ đông, lẫn chính sách siết chặt trở lại các yếu tố đầu tư nước ngoài, để lại tiếc nuối cho bao người. Tuy nhiên, nó cũng kịp để lại cho ngành Karaoke 1 thứ động lực khiến các nhà đầu tư Việt Nam lao vào, để rồi thập kỷ sau (2000-2010) khắp Saigon xuất hiện rất nhiều cái tên làm mưa làm gió trong lĩnh vực giải trí này.

Vào thời điểm đầu 2000, ít ai biết rằng có 1 thương hiệu của chính người Việt đã tạo nên trào lưu bùng nổ phong trào đầu tư ngành Karaoke tại Việt nam ở thập niên này. Đó là thương hiệu Arirang thuộc sở hữu của Công ty CP dịch vụ Phú Nhuận (MASECO). Thương hiệu này gần như là đầu tiên khai sinh ra hệ thống âm thanh KaraOke với thương hiệu Arirang huyền thoại. Nổi tiếng nhất Việt Nam lúc đó phải kể đến dòng sản phẩm 3600 trứ danh của họ mà người ta vẫn quen gọi là đầu Karaoke ” 5 số”. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, Ariang trở thành ” vua Karaoke” ở Việt nam, nó cũng thúc đẩy mô hình này phát triển rầm rộ bởi yếu tố siêu lợi nhuận ở thời điểm này vì nhu cầu giải trí của đại chúng quá lớn với những thương hiệu đình đám như Nnice, Mimi, Nghệ thuật, Nốt nhạc vui, Nhạc Việt… phủ khắp Saigon.

Dịch vụ Karaoke thuộc về mảng Giải trí (Entertainment), ở thời điểm sơ khai, loại hình dịch vụ này đơn thuần chỉ là kinh doanh giải trí, giúp khách hàng khi có thời gian rảnh rỗi, tụ tập bạn bè hát hò nhằm giải tỏa căng thẳng trong công việc và đời sống. Người kinh doanh chủ yếu kiếm tiền từ tiền phòng và đồ uống là bia và nước đóng chai, tuy nhiên đã có nhiều nhà đầu tư với tư duy nhạy bén hơn, họ đã khéo léo kết yếu tố FnB vào doanh nghiệp của mình với chiến lược khai thác tối đa nhu cầu của khách hàng, và định vị nên concepts ” Nhà hàng – Karaoke” mà chuỗi KaraOke Nnice là một ví dụ điển hình khi áp dụng thành công cách thức này.

Tuy nhiên, yếu tố khó khăn trong quản trị loại hình này chính là “kiểm soát gian lận” của đội ngũ nhân viên, bởi mọi hoạt động về dịch vụ chính giữa nhân viên và khách hàng đều nằm sau cánh cửa của phòng hát. Mà các nhà đầu tư đa phần lại là tay ngang, kể cả đội ngũ quản ký cũng từ mảng FnB nhảy sang, họ hoàn toàn phải tự mày mò, đúc kết từng chút một để xây dựng nên qui trình vận hành ( SOP) cho mình. Nên chỉ cần ai có được qui trình đúng là thắng, còn ngược lại thì cái cảnh “tiền vô cửa trước – bước ra cửa sau” là méo mặt.

Giai đoạn sau này, cái mảng này nó biến hình lẫn biến thể như thế nào, chắc các bạn rành hơn tui, nên cho phép tui nghỉ nói ha😂

 

Xem Series bài:

Sơ lược Ngành Hospitality ở Việt Nam – Bài 1. Góc nhìn từ Nghề

Sơ lược ngành Hospitality ở Việt Nam – Bài 2: Ẩm – Thực là gì?

Sơ lược Ngành Hospitality ở Việt Nam – Bài 3: Các thời kỳ tiêu biểu của Ẩm thực Việt nam hiện đại

Sơ lược ngành Hospitality ở Việt Nam – Bài 4: Văn hóa & Kinh doanh ẩm thực Miền Nam giai đoạn 1954 – 1975

Sơ lược Ngành Hospitality ở Việt Nam –  Bài 5: Văn hóa ẩm thực Miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 ( tiếp theo)

Sơ lược ngành Hospitality ở Việt Nam – Bài 6: Văn hóa ẩm thực Miền Nam giai đoạn 1975 – 2020 ( tiếp theo)

Sơ lược ngành hospitality ở Việt Nam – Bài 7: Văn hóa ẩm thực Miền Nam giai đoạn 2000 – 2010 ( tiếp theo)

Sơ lược ngành hospitality ở Việt Nam – Bài 8: Sự xuất hiện của những chuỗi nhà hàng và cà phê giai đoạn 2000 – 2010

Nguồn: vietnambusinessinsider.vn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here