TẠI SAO TRẺ EM CẦN HỌC TRIẾT HỌC

0
79

 

Trẻ em là những triết gia tự nhiên. Hãy thử xem một đứa trẻ ba tuổi liên tục đặt câu hỏi “Tại sao”? Nhưng liệu rằng chúng ta có thường xuyên khuyến khích những câu hỏi mà trẻ em hỏi và thực sự dành thời gian để phát triển cuộc đối thoại tiếp theo không?

Tâm trí trẻ mà truy vấn và yêu cầu sự biện minh cho các tiêu chuẩn đã được chấp nhận sẵn gợi ý về một sự tìm kiếm ý nghĩa có tính bản năng. Sự tìm kiếm đó có thể được khuyến khích và đào sâu theo hướng xây dựng. Đây là nơi mà triết học có thể giúp đỡ và mang lại nhiều lợi ích cho trẻ em.

Các nghiên cứu đã chứng minh rằng những đứa trẻ được học triết học có nhiều khả năng đạt được kết quả học tập tốt hơn. Học sinh cũng được hưởng các lợi ích về mặt xã hội như lòng tự trọng tốt hơn và thể hiện sự đồng cảm với người khác.

Cũng có những nghiên cứu cho rằng tình trạng bắt nạt trong sân trường sẽ ít hơn và các vấn đề liên quan đến quản lý hành vi cũng giảm bớt. Điều này được chứng minh đặc biệt tại Trường Buranda State ở Queensland, nơi áp dụng phương pháp triết học Col (Community of Inquiry) như một cách tiếp cận trong toàn trường.

Trẻ em là những triết gia tự nhiên. Hãy thử xem một đứa trẻ ba tuổi liên tục đặt câu hỏi “Tại sao”? Nhưng liệu rằng chúng ta có thường xuyên khuyến khích những câu hỏi mà trẻ em hỏi và thực sự dành thời gian để phát triển cuộc đối thoại tiếp theo không?

Tâm trí trẻ mà truy vấn và yêu cầu sự biện minh cho các tiêu chuẩn đã được chấp nhận sẵn gợi ý về một sự tìm kiếm ý nghĩa có tính bản năng. Sự tìm kiếm đó có thể được khuyến khích và đào sâu theo hướng xây dựng. Đây là nơi mà triết học có thể giúp đỡ và mang lại nhiều lợi ích cho trẻ em.

Các nghiên cứu đã chứng minh rằng những đứa trẻ được học triết học có nhiều khả năng đạt được kết quả học tập tốt hơn. Học sinh cũng được hưởng các lợi ích về mặt xã hội như lòng tự trọng tốt hơn và thể hiện sự đồng cảm với người khác.

Cũng có những nghiên cứu cho rằng tình trạng bắt nạt trong sân trường sẽ ít hơn và các vấn đề liên quan đến quản lý hành vi cũng giảm bớt. Điều này được chứng minh đặc biệt tại Trường Buranda State ở Queensland, nơi áp dụng phương pháp triết học Col (Community of Inquiry) như một cách tiếp cận trong toàn trường.

DẠY TƯ DUY PHẢN BIỆN

Mục đích của phương pháp CoI là tạo ra những nhà tư tưởng phản biện, quan tâm, sáng tạo và hợp tác. Nó thực hiện điều này bằng cách khuyến khích các cuộc thảo luận do học sinh điều khiển dưới sự dẫn dắt của một giáo viên được đào tạo về triết học.

Điều này có tạo ra sự hỗn loạn trong lớp học không? Giáo viên có nên cho phép học sinh ngồi thành một vòng tròn và đưa ra câu hỏi của riêng mình, thảo luận nhiều câu trả lời khác nhau cho cùng một câu hỏi mà đơn giản là không có kết luận thực tế đen-trắng? Có nên cho trẻ học triết không? Có phải nó quá khó không?

Triết học cho trẻ em (Philosophy for Children / P4C) bắt đầu từ những năm 1970 nhằm khuyến khích các kỹ năng tư duy phê phán ở trẻ em ở bậc giáo dục phổ thông. Những người ủng hộ P4C tin rằng triết học không nên bị giới hạn trong các học viện.

Thuật ngữ được đặt ra bởi Matthew Lipman. Ông muốn khuyến khích sự suy luận (reasonableness) trong dân chúng và tìm ra cách tốt nhất để làm điều đó là dạy các kỹ năng tư duy phê phán từ khi còn nhỏ. Lipman định nghĩa tư duy phê phán là:

(1) tạo điều kiện cho sự đoán đoán vì nó (2) dựa trên các tiêu chí, (3) là tự sửa lỗi và (4) nhạy bén với bối cảnh.

Bên cạnh các kỹ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo và quan tâm cũng là những kỹ năng quan trọng không kém, trẻ em nên được khuyến khích phát triển chúng. Theo cách này, một người có tư duy phản biện không chỉ biết điều đúng đắn họ cần làm là gì, mà họ còn biết cách đạt được nó, trong khi họ nhạy bén với bối cảnh và những người khác có liên quan đến tình huống này.

Kỹ năng tư duy chung như vậy có thể được dạy trong lớp học bằng cách sử dụng các câu chuyện kể. Trẻ em phản ứng tốt với các câu chuyện, từ đó các câu hỏi được tạo ra về các chủ đề triết học như sự thật, tình bạn hoặc đạo đức.

Nguyên tắc được đặt thành một nhóm. Chúng bao gồm các quy tắc, chẳng hạn như nêu ra chủ đề, không phải là người và không được làm gián đoạn. Sau đó, giáo viên tạo điều kiện cho một cuộc thảo luận cởi mở, dân chủ, do chính học sinh làm chủ, theo theo chỉ dẫn truy vấn của các nhóm.

Bằng cách này, CoI khuyến khích sự tôn trọng giữa học sinh và giáo viên thảo luận về ý tưởng cùng nhau. Điều này tạo ra một môi trường an toàn cho những người tham gia khám phá những điểm mạnh và điểm yếu của các quan điểm khác nhau. Học sinh được khuyến khích trở thành những nhà tư tưởng tự chủ và điều này giúp các em tự tin.

Hơn nữa, CoI khuyến khích sự đồng cảm. Các ý tưởng được xây dựng dựa trên cái của người khác, không chỉ đơn thuần là tranh cãi nhau. Các kỹ năng tư duy được mài giũa trong môn triết học có thể chuyển hóa và phù hợp với tất cả các môn học khác cũng như các tình huống thực tế.

Vì tất cả những lý do này, chúng ta có thể hiểu lý do tại sao Hội đồng Chương trình Giáo dục của Chính phủ Tây Úc lại xác định tư duy phản biện là một giá trị cá nhân. Tư duy phản biện trong chương trình giáo dục của Tây Úc được định nghĩa là khả năng:

Tư duy một cách phản biện về cả di sản văn hóa, thái độ và giá trị làm nền tảng cho các xu hướng và thể chế xã hội hiện nay.

Điều này tương thích với 09 giá trị được liệt kê trong khuôn khổ khung chương trình giáo dục quốc gia, bao gồm: sự quan tâm và lòng trắc ẩn; chính trực; làm hết sức mình; sự tôn trọng; công bằng; trách nhiệm; tự do; hiểu biết, khoan dung và hòa nhập; trung thực và đáng tin cậy. Để sở hữu những phẩm chất này, người ta sẽ cần phát triển các kỹ năng tư duy theo cách này.

Những kỹ năng như vậy có thể (và nên) được dạy trong nhiều môn học, nhưng địa hạt ban đầu của nó là triết học. Triết học rất thích hợp để khuyến khích sự biện luận. Triết học dạy cho học sinh biết cân nhắc sự biện minh cho các lập luận, lý do ủng hộ một quan điểm/lập trường và xem xét các lựa chọn thay thế.

Harvey Siegel ghi chú thêm:

Do đó, một người có tư duy phản biện là một người dịch chuyển hợp lý bởi những lý do: cô ấy có khuynh hướng tin tưởng và hành động phù hợp với các lý do; và cô ấy có khả năng đánh giá một cách đúng đắn sức thuyết phục của các lý do trong nhiều hoàn cảnh trong đó lý do đóng một vai trò nào đó.

Chắc chắn đây là những loại thành viên xã hội mà chúng ta đang cần.

—————————-

Tác giả: Laura D’Olimpio, Giảng viên về Triết học và Đạo đức học, Đại học Notre Dame, Australia

Viện IRED lược dịch

Nguồn: Theconversation.com

Nguồn: openedu

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here