“Tình yêu bắt đầu từ trong nhà” – Mẹ Têrêsa

0
123

Mẹ Teresa luôn là một hình tượng đặc biệt trong lòng những người biết đến bà. Bà đứng vào hàng ngũ các vĩ nhân không phải vì các chiến công hay tài năng đặc biệt, mà là sự bền bỉ, tận tuỵ hi sinh trong hơn 45 năm chăm sóc người nghèo, bệnh tật, trẻ mồ côi, người hấp hối.

Năm 1950, nữ tu 40 tuổi Teresa sau 3 năm chăm sóc người nghèo, đã lập ra 1 dòng tu mới, sau này trở thành Dòng Thừa Sai Bác ái (Missionaries of Charity), sứ mệnh của dòng tu này là “chăm sóc người đói khát, trần truồng, kẻ không nhà, người tàn tật, người mù, bệnh nhân phong, bất cứ ai đang cảm thấy thừa thãi, bị căm ghét, ruồng bỏ trong xã hội, những người đang là gánh nặng của xã hội và bị mọi người xa lánh” dưới sự chấp thuận của toà thánh Vatican. Và bà cống hiến cả đời cho các hoạt động từ thiện cho đến khi mất vào năm 1997

Dòng tu này hiện nay đã phát triển có 4000 tu sĩ cùng rất nhiều người tình nguyện với trên 600 cơ sở tại 123 quốc gia. Bà đã lập ra các trung tâm từ thiện chăm sóc người tị nạn, người khuyết tật, già lão, nghiện rươu, người nghèo và người vô gia cư, nạn nhân lũ lụt, dịch bệnh, và nạn đói. Ngoài ra bà cũng lập thêm các cô nhi viện, trại chăm sóc người AIDS, trại chăm sóc người bị phong, trại chăm sóc người hấp hối.

Về triết lý hành động, nhìn qua các hoạt động trong suốt cuộc đời bà, có thể thấy bà chú trọng xoa dịu nỗi đau của người bất hạnh bằng cách mang đến cho họ sự chăm sóc trong tình yêu thương. Chẳng hạn bà chú trọng “cái chết đẹp” dành cho những người bất hạnh hấp hối, mong muốn “những người từng sống kiếp thấp hèn như những con vật, nhưng chết như những thiên thần – được yêu thương và được trọng vọng.”. Những người được mang các trại hấp hối được chết trong nhân phẩm, được chôn cất theo niềm tin tôn giáo của họ; người Hồi giáo được đọc kinh Quran, người Hindu được tẩy rửa bằng nước sông Hằng, và người Công giáo được làm lễ xức dầu thánh.

Ngoài ra bà cực lực phản đối chuyện phá thai, coi như đó là hành động giết người, và thành lập nhiều trung tâm để chăm sóc các cô gái có con hoang và nhận nuôi đứa bé sau khi được sinh ra.

Tuy nhiên, triết lý hành động của bà cũng gặp 1 số chỉ trích, tuy không nhiều. Chỉ trích quan trọng nhất là bà chỉ thụ động “xoa dịu nỗi đau” chứ không tìm cách “cải thiện hoàn cảnh sống” cho những người cùng khổ, vì vậy, bà được xem là “không chịu làm gì để thay đổi điều kiện sống tồi tệ của người nghèo, mà chỉ lo chăm sóc người bệnh và người hấp hối”. Một điều khác là bà quá chú trọng “cái chết đẹp” nhưng lại xem nhẹ những nỗ lực y khoa nhằm cứu sống người bệnh như xét nghiệm chẩn đoán bệnh một cách có hệ thống, hay vi phạm nguyên tắc y khoa như tắm lạnh cho tất cả người bệnh. Những điều này có lẽ xuất phát từ quan điểm tôn giáo của bà (về thiên đường) cũng như quan niệm “sự đau khổ sẽ đem con người đến gần Chúa Giê-xu hơn” của bà.

Trong suốt cuộc đời mình, bà đã dành rất nhiều danh hiệu cao quý cho sự cống hiến của mình, tại Ấn Độ, bà được trao giải Jawaharlal Nehru cho sự Hiểu biết Quốc tế (năm 1972), và giải thưởng dân sự cao quý nhất Ấn Độ, Bharat Ratna (năm 1980). Năm 1971, Giáo hoàng Phaolô VI trao tặng bà Giải Hòa bình Giáo hoàng Gioan XXIII lần thứ nhất, khen ngợi bà về những gì đã làm cho người nghèo, thể hiện lòng nhân ái Kitô và nỗ lực đấu tranh cho hòa bình. Năm 1976, bà được trao Giải Pacem in Terris.

Các chính phủ và những tổ chức dân sự cũng tôn vinh Mẹ Teresa. Vương quốc Anh và Hoa Kỳ nhiều lần trao tặng bà giải thưởng các loại, cao quý nhất là Order of Merit của Anh Quốc năm 1983, và công dân danh dự của Mỹ năm 1996. Quê hương Albania của Mẹ Teresa cũng dành cho bà Huân chương Vàng Nhà nước năm 1994.

Đặc biệt, năm 1979, bà được trao giải Nobel Hoà Bình cho “những hoạt động diễn ra trong sự đấu tranh vượt qua sự nghèo khó và cùng quẫn, là những điều đe dọa hòa bình.” Bà từ chối bữa tiệc mừng truyền thống và yêu cầu gởi số tiền 192 000 USD cho người nghèo ở Ấn Độ, nói rằng những phần thưởng trên thế gian chỉ có giá trị chỉ nào chúng giúp ích những người thiếu thốn trên thế giới.

Chúng ta hãy cùng nhau đọc bài diễn văn tràn ngập tình yêu thương của bà tại lễ trao giải Nobel Hoà Bình. Bài diễn văn này cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về triết lý hành động của bà như đã đề cập ở trên.

Về Mẹ Teresa (nguồn Wikipedia)

Mẹ Teresa (Tiếng Albania: Agnes Gonxha Bojaxhiu, tiếng Macedonia: Агнес Гонџа Бојаџиу, Latinic: Agnes Gondža Bojadžiu; IPA: [‘agnɛs ‘gɔndʒa bɔ’jadʒu]), còn được gọi là Mẹ Teresa Calcutta (26 tháng 8, 1910 – 5 tháng 9, 1997) là nữ tu Công giáo Rôma người Albania, và là nhà sáng lập Dòng Thừa sai Bác Ái ở Kolkata (Calcutta), Ấn Độ năm 1950. Trong hơn bốn mươi năm, bà chăm sóc người nghèo, bệnh tật, trẻ mồ côi, người hấp hối, trong khi hoàn tất nhiệm vụ lãnh đạo dòng tu phát triển khắp Ấn Độ, và đến các quốc gia khác.

Năm 1970, Mẹ Teresa trở nên một nhân vật toàn cầu nổi tiếng với các hoạt động nhân đạo cứu giúp người nghèo và những người sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, một phần là nhờ một quyển sách và cuốn phim tư liệu tựa đề Something Beautiful for God của Malcome Muggeridge. Bà được trao Giải Nobel Hòa bình năm 1979 như một sự vinh danh cho các hoạt động nhân đạo của bà.

Dòng Thừa sai Bác ái của Mẹ Teresa tiếp tục phát triển, đến thời điểm bà từ trần, tổ chức từ thiện này đang điều hành 610 cơ sở truyền giáo tại 123 quốc gia, trong đó có các nhà trọ và nhà tình thương có người mắc bệnh HIV/AIDS, cũng như bệnh nhân phong và lao, các bếp ăn từ thiện, các chương trình tư vấn cho gia đình và trẻ em, các trại mồ côi, và trường học.

(Nguyễn Mai Anh Kiệt giới thiệu)

Nobel Lecture

11 December, 1979

Diễn văn Nobel

11 tháng 12, 1979

As we have gathered here together to thank God for the Nobel Peace Prize I think it will be beautiful that we pray the prayer of St. Francis of Assisi which always surprises me very much – we pray this prayer every day after Holy Communion, because it is very fitting for each one of us, and I always wonder that 4-500 years ago as St. Francis of Assisi composed this prayer that they had the same difficulties that we have today, as we compose this prayer that fits very nicely for us also. I think some of you already have got it – so we will pray together.2

Trong khi chúng ta tập hợp với nhau ở đây để cảm ơn Chúa về giải Nobel Hòa bình, tôi nghĩ thật là tuyệt vời để chúng ta cầu nguyện lời nguyện của Thánh Phanxicô Assisi, lời nguyện luôn làm tôi rất ngạc nhiên – chúng tôi cầu nguyện lời này mỗi ngày sau khi Rước Lễ, vì rất hợp cho mỗi người chúng tôi, và tôi luôn tự hỏi rằng 4-500 năm trước đây, khi Thánh Phanxicô Assisi lập lời cầu nguyện này người ta có những khó khăn như chúng ta có ngày hôm nay, như chúng ta lập lời cầu nguyện này cũng rất phù hợp với chúng ta. Tôi nghĩ một số bạn đã có bài nguyện rồi – vậy chúng ta sẽ cùng nhau cầu nguyện.

Let us thank God for the opportunity that we all have together today, for this gift of peace that reminds us that we have been created to live that peace, and Jesus became man to bring that good news to the poor. He being God became man in all things like us except sin, and he proclaimed very clearly that he had come to give the good news. The news was peace to all of good will and this is something that we all want – the peace of heart – and God loved the world so much that he gave his son – it was a giving – it is as much as if to say it hurt God to give, because he loved the world so much that he gave his son, and he gave him to Virgin Mary, and what did she do with him?

Chúng ta hãy cảm tạ ơn Chúa cho cơ hội mà tất cả chúng ta đã có cùng nhau hôm nay, cho món quà của hòa bình để nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta đã được tạo ra để sống hòa bình đó, và Chúa Giêsu đã trở thành người để đem tin mừng đến cho người nghèo. Ngài là Đức Chúa Trời đã trở thành con người với tất cả những gì giống như chúng ta ngoại trừ tội lỗi, và Ngài tuyên bố rất rõ ràng rằng Ngài đã đến để ban tin mừng. Tin mừng đó là hòa bình cho mọi người thiện tâm và đây là điều mà tất cả chúng ta đều muốn – sự bình an của tâm hồn – và Chúa yêu thương thế gian đến nỗi Ngài đã ban con trai của Ngài – là một sự hiến dâng – nhiều như thể nói là Chúa rất đau lòng để cho, vì Ngài yêu thương thế gian nhiều đến Ngài nỗi đã ban con trai của Ngài, và Ngài trao con cho Đức Mẹ Maria Đồng trinh, và Đức Mẹ đã làm gì với đứa con đó?

As soon as he came in her life – immediately she went in haste to give that good news, and as she came into the house of her cousin, the child – the unborn child – the child in the womb of Elizabeth, leapt with joy. He was that little unborn child, was the first messenger of peace. He recognised the Prince of Peace, he recognised that Christ has come to bring the good news for you and for me. And as if that was not enough – it was not enough to become a man – he died on the cross to show that greater love, and he died for you and for me and for that leper and for that man dying of hunger and that naked person lying in the street not only of Calcutta, but of Africa, and New York, and London, and Oslo – and insisted that we love one another as he loves each one of us. And we read that in the Gospel very clearly – love as I have loved you – as I love you – as the Father has loved me, I love you – and the harder the Father loved him, he gave him to us, and how much we love one another, we, too, must give each other until it hurts. It is not enough for us to say: I love God, but I do not love my neighbour. St. John says you are a liar if you say you love God and you don’t love your neighbour. How can you love God whom you do not see, if you do not love your neighbour whom you see, whom you touch, with whom you live. And so this is very important for us to realise that love, to be true, has to hurt. It hurt Jesus to love us, it hurt him. And to make sure we remember his great love he made himself the bread of life to satisfy our hunger for his love. Our hunger for God, because we have been created for that love. We have been created in his image. We have been created to love and be loved, and then he has become man to make it possible for us to love as he loved us. He makes himself the hungry one – the naked one – the homeless one – the sick one – the one in prison – the lonely one – the unwanted one – and he says: You did it to me. Hungry for our love, and this is the hunger of our poor people. This is the hunger that you and I must find, it may be in our own home.

Ngay sau khi đứa con đến với cuộc đời của bà – ngay lập tức bà đã ban bố tin vui đó, và khi bà vào ngôi nhà của người em họ, đứa bé – đứa bé chưa sinh ra – đứa bé trong bụng mẹ của Elizabeth, nhảy nhót với niềm vui. Đó là đứa bé chưa sinh ra, là sứ giả đầu tiên của hòa bình. Đứa bé đã nhận là Hoàng tử của Hòa bình, Ngài đã nhận ra rằng Đấng Cứu Thế đã đến để mang lại tin vui cho bạn và cho tôi. Và như thể đó là không đủ – trở thành một con người cũng chưa đủ – Ngài đã chết trên thánh giá để cho thấy tình yêu vĩ đại hơn, và Ngài đã chết cho bạn và cho tôi và cho người phong cùi đó và cho người chết vì đói đó và người trần truồng nằm trên đường phố đó, không những chỉ ở Calcutta, nhưng ở châu Phi, và New York và London, Oslo – và đòi hỏi rằng chúng ta yêu nhau như Ngài yêu mỗi người chúng ta. Và chúng ta đọc điều đó trong Phúc Âm rất rõ ràng – yêu như Ta đã yêu con – như Ta yêu con – như Chúa Cha đã yêu Ta, Ta yêu con – và Chúa Cha yêu Ngài hơn bao nhiêu, Chúa Cha đã cống hiến Ngài cho chúng ta, và chúng ta yêu nhau bao nhiêu, chúng ta cũng phải yêu nhau cho đến khi đau đớn. Không đủ để chúng ta nói: Tôi yêu Chúa, nhưng tôi không yêu người láng giềng của tôi. Thánh John nói rằng bạn là một kẻ nói dối nếu bạn nói bạn yêu Chúa mà bạn không yêu người láng giềng của bạn. Làm sao mà bạn có thể yêu Chúa người mà bạn không nhìn thấy, nếu bạn không yêu người láng giềng người mà bạn nhìn thấy, người bạn tiếp xúc, người mà bạn cùng sống. Và vì vậy rất quan trọng đối với chúng ta để nhận ra rằng tình yêu, để thật sự có, phải là đau đớn. Giêsu chịu yêu chúng ta, điều đó làm Ngài đau đớn. Và để đảm bảo rằng chúng ta nhớ đến tình yêu tuyệt vời của Ngài, Ngài biến thành thức ăn của đời sống để thỏa mãn cơn đói của chúng ta đối với tình yêu của Ngài. Chúng ta đói khát Chúa, vì chúng ta được tạo ra cho tình yêu đó. Chúng ta được tạo ra trong hình ảnh của Chúa. Chúng ta được tạo ra để yêu và để được yêu, và Chúa đã trở thành người để giúp chúng ta có thể yêu như Ngài đã yêu chúng ta. Ngài biến thành người đói – người trần truồng – người không nhà – người bệnh hoạn – người trong tù – người cô đơn – người bị từ chối – và Ngài nói: Con đã chăm sóc ta. Đói cho tình yêu của chúng ta, và đây là sự đói khát của con người chúng ta. Đây là sự đói khát mà bạn và tôi phải tìm kiếm, nó có thể ngay trong nhà của chúng ta.

I never forget an opportunity I had in visiting a home where they had all these old parents of sons and daughters who had just put them in an institution and forgotten maybe. And I went there, and I saw in that home they had everything, beautiful things, but everybody was looking towards the door. And I did not see a single one with their smile on their face. And I turned to the Sister and I asked: How is that? How is it that the people they have everything here, why are they all looking towards the door, why are they not smiling? I am so used to see the smile on our people, even the dying one smile, and she said: This is nearly every day, they are expecting, they are hoping that a son or daughter will come to visit them. They are hurt because they are forgotten, and see – this is where love comes. That poverty comes right there in our own home, even neglect to love. Maybe in our own family we have somebody who is feeling lonely, who is feeling sick, who is feeling worried, and these are difficult days for everybody. Are we there, are we there to receive them, is the mother there to receive the child?

Tôi không bao giờ quên một dịp tôi đã viếng thăm một nhà nơi nhiều cha mẹ già của những người con trai và con gái bị con cái đưa vào viện dưỡng lão và có thể là bị bỏ quên. Và tôi đến đó, và tôi thấy trong nhà đó họ có tất cả mọi thứ, những thứ xinh đẹp, nhưng mọi người đều nhìn ra phía cánh cửa. Và tôi không thấy một người nào với nụ cười trên khuôn mặt của họ. Và tôi quay sang Chị và tôi hỏi: Làm sao thế? Sao mà người có tất cả ở đây, tại sao tất cả đều trông ra phía cánh cửa, tại sao họ không cười? Tôi quen nhìn thấy nụ cười của mọi người, thậm chí người sắp chết cũng cười, và Chị nói: Điều này hầu như mỗi ngày, họ đang mong đợi, họ đang hy vọng rằng những người con trai hay con gái sẽ đến thăm họ. Họ bị tổn thương bởi vì họ đang bị lãng quên, và nhìn xem – đây là nơi mà tình yêu đến. Sự nghèo đói đó đến ngay chính trong nhà của chúng ta, thậm chí bỏ bê tình yêu. Có lẽ ngay trong gia đình của chúng ta, chúng ta có người đang cảm thấy cô đơn, cảm thấy bệnh hoạn, cảm thấy lo lắng, và đây là những ngày khó khăn cho tất cả mọi người. Chúng ta có ở đó không, chúng ta có ở đó để đón nhận họ không có người mẹ nào hiện diện để nhận con mình?

I was surprised in the West to see so many young boys and girls given into drugs, and I tried to find out why – why is it like that, and the answer was: Because there is no one in the family to receive them. Father and mother are so busy they have no time. Young parents are in some institution and the child takes back to the street and gets involved in something. We are talking of peace. These are things that break peace, but I feel the greatest destroyer of peace today is abortion, because it is a direct war, a direct killing – direct murder by the mother herself. And we read in the Scripture, for God says very clearly: Even if a mother could forget her child – I will not forget you – I have carved you in the palm of my hand. We are carved in the palm of His hand, so close to Him that unborn child has been carved in the hand of God. And that is what strikes me most, the beginning of that sentence, that even if a mother could forget something impossible – but even if she could forget – I will not forget you. And today the greatest means – the greatest destroyer of peace is abortion. And we who are standing here – our parents wanted us. We would not be here if our parents would do that to us. Our children, we want them, we love them, but what of the millions. Many people are very, very concerned with the children in India, with the children in Africa where quite a number die, maybe of malnutrition, of hunger and so on, but millions are dying deliberately by the will of the mother. And this is what is the greatest destroyer of peace today. Because if a mother can kill her own child – what is left for me to kill you and you kill me – there is nothing between. And this I appeal in India, I appeal everywhere: Let us bring the child back, and this year being the child’s year: What have we done for the child? At the beginning of the year I told, I spoke everywhere and I said: Let us make this year that we make every single child born, and unborn, wanted. And today is the end of the year, have we really made the children wanted? I will give you something terrifying. We are fighting abortion by adoption, we have saved thousands of lives, we have sent words to all the clinics, to the hospitals, police stations – please don’t destroy the child, we will take the child. So every hour of the day and night it is always somebody, we have quite a number of unwedded mothers – tell them come, we will take care of you, we will take the child from you, and we will get a home for the child. And we have a tremendous demand from families who have no children, that is the blessing of God for us. And also, we are doing another thing which is very beautiful – we are teaching our beggars, our leprosy patients, our slum dwellers, our people of the street, natural family planning.

Tôi ngạc nhiên khi thấy rất nhiều thanh niên và thiếu nữ phương Tây bị nghiện thuốc phiện, và tôi cố gắng để tìm hiểu tại sao – tại sao là như thế, và câu trả lời là: Bởi vì không có ai trong gia đình để đón nhận chúng. Cha và mẹ quá bận rộn họ không có thời gian. Các bậc cha mẹ trẻ đang ở tại một cơ sở nào đó và những đứa trẻ quay trở ra đường phố và vướng vào cái gì đó. Chúng ta đang nói về hòa bình. Đây là những điều phá hoại hòa bình, nhưng tôi cảm thấy điều tàn phá hoà bình vĩ đại nhất ngày nay là phá thai, bởi vì nó là một cuộc chiến tranh trực tiếp, cuộc giết hại trực tiếp – cuộc sát hại trực tiếp bởi chính người mẹ. Và chúng ta đọc trong Kinh Thánh, vì Chúa nói rất rõ ràng: Ngay cả khi một người mẹ có thể quên con mình – Ta sẽ không quên con – Ta đã khắc con trên lòng bàn tay của Ta. Chúng ta đã được khắc trong bàn tay của Ngài, thân mật với Ngài đến mức thai nhi đã được khắc trong bàn tay của ngài. Và đó là điều đập vào tôi mạnh nhất, lời bắt đầu của câu đó, thậm chí nếu một người mẹ có thể quên một điều không thể quên – nhưng ngay cả khi cô ta có thể quên – Ta sẽ không quên con. Và ngày nay điều tàn ác lớn nhất – điều tàn phá hòa bình lớn nhất là phá thai. Và chúng ta những người đang đứng ở đây – cha mẹ của chúng ta đã muốn có chúng ta. Chúng ta đã không ở đây nếu cha mẹ của chúng ta đã làm điều đó với chúng ta. Con cái của chúng ta, chúng ta muốn chúng, chúng ta yêu chúng, nhưng với hàng triệu người khác thì sao? Nhiều người rất, rất quan tâm với trẻ em ở Ấn Độ, với trẻ em ở châu Phi nơi mà có khá nhiều số chết, có thể vì suy dinh dưỡng, vì đói khát và vì nhiều thứ, nhưng hàng triệu chết bởi ý muốn cố y’ của người mẹ. Và điều này ngày nay là điều tàn phá hòa bình lớn nhất. Vì nếu người mẹ có thể giết con của chính mình – có cái gì còn lại cho tôi để giết bạn và bạn giết tôi – không còn điều gì nữa giữa hai ta. Và điều này tôi kêu gọi ở Ấn Độ, kêu gọi ở khắp mọi nơi: Hãy mang trẻ thơ trở lại, và năm nay là năm của trẻ thơ: chúng ta đã làm được gì cho trẻ thơ? Vào đầu năm tôi đã bảo, tôi đã diễn thuyết ở khắp mọi nơi và tôi đã nói: Năm nay hãy làm cho mọi trẻ thơ đã sinh, và chưa sinh, được bố mẹ muốn sinh. Và hôm nay là cuối năm, chúng ta đã thực sự làm cho các trẻ thơ được bố mẹ muốn sinh chưa? Tôi sẽ cho các bạn biết vài điều đáng sợ. Chúng tôi đang đấu tranh phá thai bằng cách nhận con nuôi, chúng tôi đã bảo vệ được hàng ngàn em, chúng tôi đã nhắn lời đến tất cả các phòng khám, bệnh viện, trạm cảnh sát – xin đừng hủy hoại trẻ thơ, chúng tôi sẽ nhận đứa trẻ. Vì vậy, mỗi giờ trong ngày hay đêm luôn luôn là một ai đó, chúng tôi có khá nhiều bà mẹ chưa cưới – kêu họ đến, chúng tôi sẽ chăm sóc bạn, chúng tôi sẽ nhận con của bạn, và chúng tôi sẽ cho trẻ thơ một mái ấm. Và chúng ta có nhu cầu lớn từ những gia đình không có con, đó là phước lành của Chúa đối với chúng ta. Và nữa, chúng tôi cũng đang làm một điều rất đẹp – chúng tôi đang dạy những người ăn xin, bệnh nhân phong cùi, cư dân khu ổ chuột, người không nhà, kế hoạch hóa gia đình theo cách tự nhiên.

And in Calcutta alone in six years – it is all in Calcutta – we have had 61,273 babies less from the families who would have had, but because they practise this natural way of abstaining, of self-control, out of love for each other. We teach them the temperature meter which is very beautiful, very simple, and our poor people understand. And you know what they have told me? Our family is healthy, our family is united, and we can have a baby whenever we want. So clear – those people in the street, those beggars – and I think that if our people can do like that how much more you and all the others who can know the ways and means without destroying the life that God has created in us.

Và riêng vùng Calcutta trong sáu năm – tất cả đều ở Calcutta, chúng tôi đã giảm được 61.273 trẻ sơ sinh trong các gia đình đáng lẽ phải có con, nhưng vì họ thực hành kiêng cữ bằng cách tự nhiên, tự kiểm soát, qua tình yêu cho nhau. Chúng tôi dạy cho họ cách đo nhiệt độ rất đẹp, rất đơn giản, và những người nghèo của chúng tôi hiểu. Và bạn biết những gì họ đã nói với tôi không? Gia đình chúng tôi được khỏe mạnh, gia đình chúng tôi đoàn kết, và chúng tôi có thể có con bất cứ khi nào chúng tôi muốn. Quá rõ ràng – những người lang thang đường phố, những người ăn xin – và tôi nghĩ rằng nếu người của chúng tôi có thể làm như thế thì bạn và tất cả người khác có thể làm nhiều hơn thế nào vì các bạn biết được cách thức và phương tiện (kế hoạc hóa gia đình) mà không hủy hoại sự sống Chúa đã tạo ra trong chúng ta.

The poor people are very great people. They can teach us so many beautiful things. The other day one of them came to thank and said: You people who have vowed chastity you are the best people to teach us family planning. Because it is nothing more than self-control out of love for each other. And I think they said a beautiful sentence. And these are people who maybe have nothing to eat, maybe they have not a home where to live, but they are great people. The poor are very wonderful people. One evening we went out and we picked up four people from the street. And one of them was in a most terrible condition – and I told the Sisters: You take care of the other three, I take of this one that looked worse. So I did for her all that my love can do. I put her in bed, and there was such a beautiful smile on her face. She took hold of my hand, as she said one word only: Thank you – and she died.

Những người dân nghèo là những người rất tuyệt vời. Họ có thể dạy chúng ta nhiều điều rất đẹp. Một ngày nọ một trong số họ đến để cảm ơn và nói: Các soeurs, những người đã thể nguyện đức tinh khiết là những người tốt nhất để dạy chúng tôi kế hoạch hóa gia đình. Bởi vì nó không gì ngoài ra sự tự kiểm soát tình yêu dành cho nhau. Và tôi nghĩ rằng họ đã nói một câu tuyệt đẹp. Và đây là những người có thể không có gì để ăn, không có nhà để ở, nhưng họ là những người tuyệt vời. Người nghèo là những người rất tuyệt vời. Một buổi tối, chúng tôi ra ngoài và gặp bốn người trên đường phố. Và một trong số đó đang trong tình trạng khủng khiếp nhất – và tôi nói với các soeurs: Chị chăm sóc ba người kia, tôi chăm người này trông tồi tệ nhất. Và, tôi đã làm tất cả những gì tình yêu của tôi có thể. Tôi đặt cô ấy trên giường, và một nụ cười nở rất đẹp trên khuôn mặt của cô. Cô ta nắm lấy tay tôi, nói một lời duy nhất: Cảm ơn – và cô đã chết.

I could not help but examine my conscience before her, and I asked what would I say if I was in her place. And my answer was very simple. I would have tried to draw a little attention to myself, I would have said I am hungry, that I am dying, I am cold, I am in pain, or something, but she gave me much more – she gave me her grateful love. And she died with a smile on her face. As that man whom we picked up from the drain, half eaten with worms, and we brought him to the home. I have lived like an animal in the street, but I am going to die like an angel, loved and cared for. And it was so wonderful to see the greatness of that man who could speak like that, who could die like that without blaming anybody, without cursing anybody, without comparing anything. Like an angel – this is the greatness of our people. And that is why we believe what Jesus had said: I was hungry – I was naked – I was homeless – I was unwanted, unloved, uncared for – and you did it to me.

Tôi buộc phải xét lương tâm của tôi trước cô ấy, và tôi hỏi tôi sẽ nói gì nếu tôi rơi vào hoàn cảnh của cô ta. Và câu trả lời của tôi là rất đơn giản. Tôi sẽ cố gắng tạo một ít sự chú ý cho bản thân, tôi sẽ nói tôi đói, rằng tôi đang chết, tôi lạnh, tôi đau đớn, hoặc gì đó, nhưng cô ấy đã cho tôi nhiều hơn – cô ấy đã cho tôi tình yêu của sự biết ơn. Và cô ấy đã chết với một nụ cười trên khuôn mặt. Khi một người mà chúng tôi đã gặp từ ống cống, bị dòi ăn nửa người, và chúng tôi đưa người đó về nhà. Tôi đã sống như một con vật trên đường phố, nhưng tôi sẽ chết như một thiên thần, được yêu thương và chăm sóc. Và rất tuyệt vời để nhìn thấy sự vĩ đại của một người có thể nói như thế, người có thể chết như thế mà không đổ lỗi cho bất cứ ai, mà không nguyền rủa bất cứ ai, mà không so sánh bất cứ điều gì. Như một thiên thần – điều này là sự vĩ đại của con người chúng ta. Và đó là lý do vì sao chúng ta tin tưởng những gì Giêsu đã nói: Ta đói khát – Ta trần truồng – Ta không nhà – Ta không ai muốn, không được yêu, không được chăm sóc – và con đã chăm sóc ta.

I believe that we are not real social workers. We may be doing social work in the eyes of the people, but we are really contemplatives in the heart of the world. For we are touching the Body of Christ 24 hours. We have 24 hours in this presence, and so you and I. You too try to bring that presence of God in your family, for the family that prays together stays together. And I think that we in our family don’t need bombs and guns, to destroy to bring peace – just get together, love one another, bring that peace, that joy, that strength of presence of each other in the home. And we will be able to overcome all the evil that is in the world.

Tôi tin rằng chúng tôi không thực sự là những người cán bộ xã hội. Có thể là chúng tôi làm công tác xã hội trong mắt của mọi người, nhưng chúng tôi thực sự là những người mặc niệm trong trái tim của thế giới. Vì chúng tôi tiếp xúc với Thân Thể Chúa 24 giờ. Chúng ta có 24 giờ trong sự hiện diện này, và bạn và tôi cũng vậy. Bạn cũng cố gắng mang sự hiện diện của Chúa vào gia đình bạn, cho gia đình cầu nguyện cùng nhau sống với nhau. Và tôi nghĩ rằng chúng ta trong gia đình không cần bom và súng, phá hủy để mang lại hòa bình – chỉ cần đến với nhau, yêu thương nhau, mang lại sự bình an, niềm vui, sức mạnh của sự hiện diện với nhau trong nhà. Và chúng ta có thể vượt qua tất cả các điều ác trên thế giới.

There is so much suffering, so much hatred, so much misery, and we with our prayer, with our sacrifice are beginning at home. Love begins at home, and it is not how much we do, but how much love we put in the action that we do. It is to God Almighty – how much we do it does not matter, because He is infinite, but how much love we put in that action. How much we do to Him in the person that we are serving.

Có quá nhiều đau khổ, quá nhiều hận thù, quá nhiều khốn khổ, và chúng ta, với lời cầu nguyện, với sự hy sinh, bắt đầu từ trong nhà. Tình yêu bắt đầu trong nhà, và không phải là chúng ta yêu bao nhiêu, nhưng chúng ta chuyển bao nhiêu tình yêu ra hành động trong các điều chúng ta làm. Đó là dâng hiến cho Chúa Toàn Năng – chúng ta làm bao nhiêu không quan trọng, bởi vì Ngài là vô hạn, nhưng bao nhiêu tình yêu chúng ta đặt vào trong hành động đó. Chúng ta làm cho Chúa bao nhiêu qua những người chúng ta đang phục vu.

Some time ago in Calcutta we had great difficulty in getting sugar, and I don’t know how the word got around to the children, and a little boy of four years old, Hindu boy, went home and told his parents: I will not eat sugar for three days, I will give my sugar to Mother Teresa for her children. After three days his father and mother brought him to our home. I had never met them before, and this little one could s