Việt Nam và ASEAN, đâu là con đường thịnh vượng và bền vững?

0
111

LTS: Ngày 12/11/2020 sẽ diễn ra Hội nghị cấp cao lần thứ 37 ASEAN tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mễ Đình, Hà Nội. Nhân Việt Nam kỷ niệm 25 năm tham gia ASEAN và giữ vị trí Chủ tịch của toàn khối ASEAN, Báo Doanh nhân Sài Gòn giới thiệu bài viết của TS. Đoàn Duy Khương – Phó Chủ tịch VCCI – Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Kinh doanh ASEAN (ASEAN BAC) về vai trò dẫn dắt ASEAN của Việt Nam cũng như tầm quan trọng của khối này trong mối quan hệ chung của khu vực châu Á và Thế giới.

Chiến lược hội nhập đột phá của Việt Nam

Với dân số khoảng 650 triệu người, tổng GDP hơn 3.000 tỷ USD, tăng trưởng bình quân đạt 4,7%/năm (trước Covid-19), ASEAN là thị trường đầy thách thức, nhưng cũng hấp dẫn các doanh nhân và nhà cải cách. Khu vực này hiện là thị trường lớn thứ ba ở châu Á, sau Trung Quốc và Ấn Độ, thu nhập đầu người ngày một nâng cao. Vai trò trung tâm của ASEAN luôn được khẳng định trong các chương trình hợp tác chiến lược trong khu vực và trên thế giới.

Vai trò trung tâm của ASEAN

Vai trò trung tâm của ASEAN

Năm 2020, Việt Nam kỷ niệm 70 năm một số quan hệ truyền thống và đặc biệt 25 năm các quan hệ thiết lập trong công cuộc đổi mới: Ngày 11/7/1995, bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ; ngày 28/7/1995 gia nhập ASEAN và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996.

Quá trình này đã giúp chúng ta thoát khỏi tư duy cũ “đồng sàng dị mộng” trong chính sách đối ngoại và có tầm nhìn toàn diện hơn về một thế giới đa dạng. Đây cũng được coi là những bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế song phương (mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hóa tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ) và đa phương quốc tế của Việt Nam (Việt Nam hiện có 16 FTA với 60 nền kinh tế).

ASEAN được xem là thị trường đặc biệt quan trọng của Việt Nam và là thị trường đầu tiên cho các sản phẩm của Việt Nam thử sức cạnh tranh trước khi bước ra thế giới. Số liệu từ Bộ Công thương cho thấy, năm 2019, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và các nước ASEAN đạt 57,6 tỷ USD, chiếm 12% tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam với thế giới. Trong quan hệ thương mại với ASEAN, Việt Nam luôn nhập siêu, chiếm 55% tổng kim ngạch thương mại.

Phát triển hợp tác ASEAN 

Tầm quan trọng của ASEAN luôn gắn liền tới biển Đông, khi đa số nước ASEAN nằm trong khu vực này. Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương, châu Âu – châu Á, Trung Đông – châu Á. Đây được coi là tuyến vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. 

ASEAN và Biển Đông

ASEAN và Biển Đông

Biển Đông mang tầm quan trọng chiến lược to lớn: Hơn 90% lượng vận tải thương mại thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong đó phải đi qua vùng biển Đông, với lượng thương mại trị giá gần 5.500 tỷ USD mỗi năm.

Nhiều nước và vùng lãnh thổ khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc. Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.

Ngoài ra, biển Đông còn là nền tảng cơ bản của nghề thủy sản sinh lợi, rất quan trọng đối với an ninh lương thực của hàng trăm triệu người ở Đông Nam Á. Dự trữ dầu khí khổng lồ, theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng.

ASEAN nằm trong các chiến lược hợp tác kinh tế mang tính toàn cầu như châu Á – Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương,… với xu hướng chuyển dịch trọng tâm về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình dương. ASEAN luôn chú trọng trong hợp tác doanh nghiệp trong khu vực, trong đó luôn coi sản xuất công nghiệp là động cơ của nền kinh tế và cũng là chủ thể đồng thời là đối tượng của các cuộc cách mạng công nghiệp. 

Trong hợp tác, ASEAN đưa ra chương trình hợp tác và phát triển 12 ngành ưu tiên: 1. Nông sản; 2. Du lịch hàng không; 3. Ô tô; 4. e-ASEAN; 5. Điện tử; 6. Thủy sản; 7. Y tế; 8. Sản phẩm cao su; 9. Dệt may; 10. Du lịch; 11. Sản phẩm gỗ; 12. Dịch vụ logistics.

ASEAN và Ấn Độ dương-Thái Bình Dương

ASEAN và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Đâu là đường thịnh vượng và bền vững của Việt Nam và ASEAN?

Trong một thế giới vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, điều kiện tiên quyết là phải nâng cao năng lực nội tại. Để nâng cao các năng lực, cần có sự đột phá ở các lĩnh vực như sản xuất, dịch vụ và tài chính. Tuy nhiên, cần lựa chọn những ngành ưu tiên có thế mạnh đột phá và có tính lan tỏa với đảm bảo có thể kết hợp cộng hưởng cả 3 yếu tố quy mô, tốc độ và tối ưu hoá.

Có thể lấy ví dụ như cách đây 40 năm, trong thời đầu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam, Chỉ thị số 100 của Ban Bí thư trung ương Đảng ngày 13/1/1981 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp đã tạo ra bước phát triển to lớn trong sản xuất nông nghiệp và là bước khởi đầu hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta. Sự đột phá và thành công của ngành sản xuất nông nghiệp đã kích thích và lan tỏa sang các lĩnh vực ngành sản xuất công nghiệp khác.

TS. Đoàn Duy Khương

TS. Đoàn Duy Khương

Ngày nay, Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (hay Công nghiệp 4.0) là quá trình áp dụng tự động hóa liên tục các hoạt động sản xuất và công nghiệp truyền thống, sử dụng công nghệ thông minh hiện đại.

Giao tiếp giữa máy với máy (M2M) và Internet vạn vật kết nối (IoT) quy mô lớn được tích hợp để tăng cường tự động hóa, cải thiện giao tiếp và tự giám sát, đồng thời sản xuất các máy thông minh có thể phân tích và chẩn đoán các vấn đề mà không cần sự can thiệp của con người.

Có thể thấy, các cuộc cách mạng công nghiệp luôn khởi đầu và nhằm đáp ứng 3 yếu tố nâng cao năng lực của lĩnh vực sản xuất là tốc độ, quy mô và tối ưu hoá.

Để nắm bắt cơ hội của Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4, các nhà sản xuất phải phát triển các năng lực mới và thích ứng. Hơn nữa, các chương trình hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm cả ASEAN đều đòi hỏi năng lực sản xuất hàng hoá nội địa để hưởng thuế quan ưu đãi thông qua các quy định hàm lượng chế biến và tỷ lệ nguyên liệu xuất xứ của hàng hoá xuất khẩu.

Các nhà sản xuất công nghiệp có thể phát triển mạnh mẽ và tiên phong một cuộc cách mạng bền vững trong thế giới kỹ thuật số. Các tập đoàn và doanh nghiệp sản xuất công nghiệp có vị trí tốt nhất để điều hướng thành công cơn bão này là những doanh nghiệp tiên phong nắm lấy các công nghệ và giải pháp sản xuất tiên tiến trong các nhà máy và chuỗi cung ứng của họ, tạo ra giá trị và cải thiện hoạt động đồng thời tăng tính bền vững. 

Để thành công, các nhà máy phải hoạt động theo một cách mới. Điều đó đòi hỏi sự tập trung mạnh mẽ vào việc xác định các vấn đề và sau đó tạo ra các giải pháp chứ không chỉ thêm các công cụ gia tăng vào các quy trình hiện có. 

Các cuộc cách mạng công nghiệp

Các cuộc cách mạng công nghiệp

Các nhà máy tạo ra hệ điều hành mới kết hợp với công nghệ theo cách tiếp cận nhanh và duy trì tính liên tục có thể tạo ra những cách thức mới để không chỉ nâng cao hiệu quả mà còn mở rộng quy mô các giải pháp mới trong doanh nghiệp. Những doanh nghiệp này có thể đưa ra những bài học quý giá cho những người có nguy cơ tụt hậu.

Trong ngành cần có tầm nhìn và sự lãnh đạo trong lĩnh vực sản xuất là rõ ràng: xác định và quy tụ các doanh nghiệp tiên tiến nhất trong nước và khu vực đang thể hiện sự dẫn đầu trong việc áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến, bao gồm AI, internet vạn vật kết nối và phân tích dữ liệu lớn, để thúc đẩy tác động tài chính và hoạt động trên quy mô lớn và chuyển đổi chuỗi giá trị từ đầu đến cuối.

Đối với các nhà hoạch định chính sách sản xuất, cần tận dụng Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 để thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu sản xuất công nghiệp nếu không thì khó có thể tăng trưởng nhanh GDP và giải quyết tốt việc làm. Quá trình phát triển sản xuất công nghiệp còn có thể đảm bảo việc an ninh, quốc phòng tốt hơn cho quốc gia.

Xu hướng chuyển đổi số sẽ đem lại cho ASEAN với cơ cấu dân số trẻ (60% dưới 35 tuổi) nhiều cơ hội để nâng cao năng lực trong sản xuất công nghiệp trong làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng đang diễn ra trên thế giới. 

ASEAN 2020 gắn kết và chủ động thích ứng

ASEAN 2020 gắn kết và chủ động thích ứng

Theo các nhà kinh tế, trước mắt ASEAN nên tập trung hợp tác vào 4 chương trình:

Thứ nhất, chính sách dữ liệu chung ASEAN: Trong kỹ thuật công nghệ, tiêu chuẩn là ưu tiên số một, do đó cần xây dựng chính sách dữ liệu khu vực chung (đây cũng là một trong những nội dung hoạt động chính của tổ chức “ASEAN manufacturing Network” vừa mới được thành lập với sự bảo trợ của ASEAN BAC)

Thứ hai, đào tạo kỹ năng kỹ thuật số ASEAN: Bất kỳ giải pháp công nghệ nào cũng phải tính đến ảnh hưởng đến người lao động và đặt con người lên hàng đầu. Cần xây dựng cam kết chung để đào tạo kỹ năng kỹ thuật số cho lực lượng lao động ASEAN

Thứ ba, sản xuất công nghiệp: Robot, IoT, AI, Big Data; Thương mại: E-commerce; Tài chính, ngân hàng: Fintech (Thanh toán điện tử ASEAN: xây dựng khuôn khổ thanh toán điện tử chung ASEAN)

Thứ tư, an ninh mạng ASEAN: Tăng cường hợp tác và nâng cao năng lực trong lĩnh vực an ninh mạng ASEAN. 

Đến năm 2030, ASEAN sẽ là nền kinh tế lớn thứ tư trên thế giới, với dân số dự báo là 720 triệu người và GDP dự kiến là 7.000 tỷ USD. Chắc chắn chuyển đổi kỹ thuật số là một trong những xu hướng tốt nhất để giúp ASEAN cũng như Việt Nam thịnh vượng và phát triển bền vững. Với vai trò dẫn dắt của Việt Nam thông qua việc đảm nhiệm Chủ tịch ASEAN năm nay sẽ góp phần hiện thực hóa nền kinh tế ASEAN Kỹ thuật số nhằm hướng tới ASEAN Việt Nam 2020 thực sự gắn kết và ứng phó.

LTS: Ngày 12/11/2020 sẽ diễn ra Hội nghị cấp cao lần thứ 37 ASEAN tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mễ Đình, Hà Nội. Nhân Việt Nam kỷ niệm 25 năm tham gia ASEAN và giữ vị trí Chủ tịch của toàn khối ASEAN, Báo Doanh nhân Sài Gòn giới thiệu bài viết của TS. Đoàn Duy Khương – Phó Chủ tịch VCCI – Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Kinh doanh ASEAN (ASEAN BAC) về vai trò dẫn dắt ASEAN của Việt Nam cũng như tầm quan trọng của khối này trong mối quan hệ chung của khu vực châu Á và Thế giới.

Chiến lược hội nhập đột phá của Việt Nam

Với dân số khoảng 650 triệu người, tổng GDP hơn 3.000 tỷ USD, tăng trưởng bình quân đạt 4,7%/năm (trước Covid-19), ASEAN là thị trường đầy thách thức, nhưng cũng hấp dẫn các doanh nhân và nhà cải cách. Khu vực này hiện là thị trường lớn thứ ba ở châu Á, sau Trung Quốc và Ấn Độ, thu nhập đầu người ngày một nâng cao. Vai trò trung tâm của ASEAN luôn được khẳng định trong các chương trình hợp tác chiến lược trong khu vực và trên thế giới.

Vai trò trung tâm của ASEAN

Vai trò trung tâm của ASEAN

Năm 2020, Việt Nam kỷ niệm 70 năm một số quan hệ truyền thống và đặc biệt 25 năm các quan hệ thiết lập trong công cuộc đổi mới: Ngày 11/7/1995, bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ; ngày 28/7/1995 gia nhập ASEAN và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996.

Quá trình này đã giúp chúng ta thoát khỏi tư duy cũ “đồng sàng dị mộng” trong chính sách đối ngoại và có tầm nhìn toàn diện hơn về một thế giới đa dạng. Đây cũng được coi là những bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế song phương (mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hóa tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ) và đa phương quốc tế của Việt Nam (Việt Nam hiện có 16 FTA với 60 nền kinh tế).

ASEAN được xem là thị trường đặc biệt quan trọng của Việt Nam và là thị trường đầu tiên cho các sản phẩm của Việt Nam thử sức cạnh tranh trước khi bước ra thế giới. Số liệu từ Bộ Công thương cho thấy, năm 2019, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và các nước ASEAN đạt 57,6 tỷ USD, chiếm 12% tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam với thế giới. Trong quan hệ thương mại với ASEAN, Việt Nam luôn nhập siêu, chiếm 55% tổng kim ngạch thương mại.

Phát triển hợp tác ASEAN 

Tầm quan trọng của ASEAN luôn gắn liền tới biển Đông, khi đa số nước ASEAN nằm trong khu vực này. Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương, châu Âu – châu Á, Trung Đông – châu Á. Đây được coi là tuyến vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. 

ASEAN và Biển Đông

ASEAN và Biển Đông

Biển Đông mang tầm quan trọng chiến lược to lớn: Hơn 90% lượng vận tải thương mại thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong đó phải đi qua vùng biển Đông, với lượng thương mại trị giá gần 5.500 tỷ USD mỗi năm.

Nhiều nước và vùng lãnh thổ khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc. Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.

Ngoài ra, biển Đông còn là nền tảng cơ bản của nghề thủy sản sinh lợi, rất quan trọng đối với an ninh lương thực của hàng trăm triệu người ở Đông Nam Á. Dự trữ dầu khí khổng lồ, theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng.

ASEAN nằm trong các chiến lược hợp tác kinh tế mang tính toàn cầu như châu Á – Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương,… với xu hướng chuyển dịch trọng tâm về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình dương. ASEAN luôn chú trọng trong hợp tác doanh nghiệp trong khu vực, trong đó luôn coi sản xuất công nghiệp là động cơ của nền kinh tế và cũng là chủ thể đồng thời là đối tượng của các cuộc cách mạng công nghiệp. 

Trong hợp tác, ASEAN đưa ra chương trình hợp tác và phát triển 12 ngành ưu tiên: 1. Nông sản; 2. Du lịch hàng không; 3. Ô tô; 4. e-ASEAN; 5. Điện tử; 6. Thủy sản; 7. Y tế; 8. Sản phẩm cao su; 9. Dệt may; 10. Du lịch; 11. Sản phẩm gỗ; 12. Dịch vụ logistics.

ASEAN và Ấn Độ dương-Thái Bình Dương

ASEAN và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Đâu là đường thịnh vượng và bền vững của Việt Nam và ASEAN?

Trong một thế giới vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, điều kiện tiên quyết là phải nâng cao năng lực nội tại. Để nâng cao các năng lực, cần có sự đột phá ở các lĩnh vực như sản xuất, dịch vụ và tài chính. Tuy nhiên, cần lựa chọn những ngành ưu tiên có thế mạnh đột phá và có tính lan tỏa với đảm bảo có thể kết hợp cộng hưởng cả 3 yếu tố quy mô, tốc độ và tối ưu hoá.

Có thể lấy ví dụ như cách đây 40 năm, trong thời đầu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam, Chỉ thị số 100 của Ban Bí thư trung ương Đảng ngày 13/1/1981 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp đã tạo ra bước phát triển to lớn trong sản xuất nông nghiệp và là bước khởi đầu hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta. Sự đột phá và thành công của ngành sản xuất nông nghiệp đã kích thích và lan tỏa sang các lĩnh vực ngành sản xuất công nghiệp khác.

TS. Đoàn Duy Khương

TS. Đoàn Duy Khương

Ngày nay, Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (hay Công nghiệp 4.0) là quá trình áp dụng tự động hóa liên tục các hoạt động sản xuất và công nghiệp truyền thống, sử dụng công nghệ thông minh hiện đại.

Giao tiếp giữa máy với máy (M2M) và Internet vạn vật kết nối (IoT) quy mô lớn được tích hợp để tăng cường tự động hóa, cải thiện giao tiếp và tự giám sát, đồng thời sản xuất các máy thông minh có thể phân tích và chẩn đoán các vấn đề mà không cần sự can thiệp của con người.

Có thể thấy, các cuộc cách mạng công nghiệp luôn khởi đầu và nhằm đáp ứng 3 yếu tố nâng cao năng lực của lĩnh vực sản xuất là tốc độ, quy mô và tối ưu hoá.

Để nắm bắt cơ hội của Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4, các nhà sản xuất phải phát triển các năng lực mới và thích ứng. Hơn nữa, các chương trình hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm cả ASEAN đều đòi hỏi năng lực sản xuất hàng hoá nội địa để hưởng thuế quan ưu đãi thông qua các quy định hàm lượng chế biến và tỷ lệ nguyên liệu xuất xứ của hàng hoá xuất khẩu.

Các nhà sản xuất công nghiệp có thể phát triển mạnh mẽ và tiên phong một cuộc cách mạng bền vững trong thế giới kỹ thuật số. Các tập đoàn và doanh nghiệp sản xuất công nghiệp có vị trí tốt nhất để điều hướng thành công cơn bão này là những doanh nghiệp tiên phong nắm lấy các công nghệ và giải pháp sản xuất tiên tiến trong các nhà máy và chuỗi cung ứng của họ, tạo ra giá trị và cải thiện hoạt động đồng thời tăng tính bền vững. 

Để thành công, các nhà máy phải hoạt động theo một cách mới. Điều đó đòi hỏi sự tập trung mạnh mẽ vào việc xác định các vấn đề và sau đó tạo ra các giải pháp chứ không chỉ thêm các công cụ gia tăng vào các quy trình hiện có. 

Các cuộc cách mạng công nghiệp

Các cuộc cách mạng công nghiệp

Các nhà máy tạo ra hệ điều hành mới kết hợp với công nghệ theo cách tiếp cận nhanh và duy trì tính liên tục có thể tạo ra những cách thức mới để không chỉ nâng cao hiệu quả mà còn mở rộng quy mô các giải pháp mới trong doanh nghiệp. Những doanh nghiệp này có thể đưa ra những bài học quý giá cho những người có nguy cơ tụt hậu.

Trong ngành cần có tầm nhìn và sự lãnh đạo trong lĩnh vực sản xuất là rõ ràng: xác định và quy tụ các doanh nghiệp tiên tiến nhất trong nước và khu vực đang thể hiện sự dẫn đầu trong việc áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến, bao gồm AI, internet vạn vật kết nối và phân tích dữ liệu lớn, để thúc đẩy tác động tài chính và hoạt động trên quy mô lớn và chuyển đổi chuỗi giá trị từ đầu đến cuối.

Đối với các nhà hoạch định chính sách sản xuất, cần tận dụng Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 để thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu sản xuất công nghiệp nếu không thì khó có thể tăng trưởng nhanh GDP và giải quyết tốt việc làm. Quá trình phát triển sản xuất công nghiệp còn có thể đảm bảo việc an ninh, quốc phòng tốt hơn cho quốc gia.

Xu hướng chuyển đổi số sẽ đem lại cho ASEAN với cơ cấu dân số trẻ (60% dưới 35 tuổi) nhiều cơ hội để nâng cao năng lực trong sản xuất công nghiệp trong làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng đang diễn ra trên thế giới. 

ASEAN 2020 gắn kết và chủ động thích ứng

ASEAN 2020 gắn kết và chủ động thích ứng

Theo các nhà kinh tế, trước mắt ASEAN nên tập trung hợp tác vào 4 chương trình:

Thứ nhất, chính sách dữ liệu chung ASEAN: Trong kỹ thuật công nghệ, tiêu chuẩn là ưu tiên số một, do đó cần xây dựng chính sách dữ liệu khu vực chung (đây cũng là một trong những nội dung hoạt động chính của tổ chức “ASEAN manufacturing Network” vừa mới được thành lập với sự bảo trợ của ASEAN BAC)

Thứ hai, đào tạo kỹ năng kỹ thuật số ASEAN: Bất kỳ giải pháp công nghệ nào cũng phải tính đến ảnh hưởng đến người lao động và đặt con người lên hàng đầu. Cần xây dựng cam kết chung để đào tạo kỹ năng kỹ thuật số cho lực lượng lao động ASEAN

Thứ ba, sản xuất công nghiệp: Robot, IoT, AI, Big Data; Thương mại: E-commerce; Tài chính, ngân hàng: Fintech (Thanh toán điện tử ASEAN: xây dựng khuôn khổ thanh toán điện tử chung ASEAN)

Thứ tư, an ninh mạng ASEAN: Tăng cường hợp tác và nâng cao năng lực trong lĩnh vực an ninh mạng ASEAN. 

Đến năm 2030, ASEAN sẽ là nền kinh tế lớn thứ tư trên thế giới, với dân số dự báo là 720 triệu người và GDP dự kiến là 7.000 tỷ USD. Chắc chắn chuyển đổi kỹ thuật số là một trong những xu hướng tốt nhất để giúp ASEAN cũng như Việt Nam thịnh vượng và phát triển bền vững. Với vai trò dẫn dắt của Việt Nam thông qua việc đảm nhiệm Chủ tịch ASEAN năm nay sẽ góp phần hiện thực hóa nền kinh tế ASEAN Kỹ thuật số nhằm hướng tới ASEAN Việt Nam 2020 thực sự gắn kết và ứng phó.

Nguồn: Doanh nhan sai gon

Previous articleHọc cách quản lý con người và trở thành người lãnh đạo tốt
Next articleĐôi lúc, bạn nên bỏ cuộc: Triết lý biến thất bại thành thành công của Nhà sáng lập Slack & Flickr, doanh nhân nào cũng nên học hỏi

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here